BNEWS Bức tranh lan tỏa của ngành công nghiệp 9 tháng đầu năm 2026 thể hiện rõ qua các yếu tố tích cực như: về tổng thể, tính lan tỏa trên toàn bộ không gian kinh tế và các ngành công nghiệp cấp I...
Phân tích sâu hơn, tăng trưởng sản xuất công nghiệp diễn ra ở tất cả các ngành công nghiệp cấp II, không phụ thuộc cục bộ vào khu vực FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài).
Ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính đạt mức tăng 15,2% đóng vai trò động lực công nghệ. Bên cạnh đó, nhờ hiệu ứng lan tỏa từ việc đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư công cũng như nhiều dự án đầu tư tư lớn, các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu và cơ khí trong nước cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao: Sản xuất kim loại tăng 25,5%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (xi-măng, bê-tông…) tăng 12,2%; Sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%.Bên cạnh sự gia tăng sản xuất của các ngành công nghiệp chế tạo, các ngành công nghiệp chế biến phục vụ chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 17,4%; sản xuất và chế biến thực phẩm 12,5%…Cùng với sự tăng tốc về sản lượng, chất lượng tăng trưởng còn phản ánh qua sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm hướng tới mở rộng năng lực sản xuất dài hạn.Phân theo mục đích sử dụng sản phẩm công nghiệp, nhóm sản xuất sản phẩm công nghiệp là tư liệu sản xuất duy trì mức tăng cao 15,4% (vượt xa tốc độ tăng 11,5% của nhóm sản xuất sản phẩm công nghiệp là các mặt hàng tiêu dùng dân cư). Điều này minh chứng dòng vốn đầu tư toàn xã hội và vốn FDI thế hệ mới đang thẩm thấu sâu vào việc mở rộng năng lực sản xuất, chứ không chỉ đơn thuần phục vụ chu kỳ tiêu dùng ngắn hạn.Bà Phí Thị Hương Nga cho biết thêm, bên cạnh các yếu tố tích cực như trên, vẫn có xu hướng phân hóa trong các ngành sản xuất. Các ngành công nghệ cao (điện tử) và công nghiệp sản xuất vật liệu phục vụ các hoạt động đầu tư xây dựng hấp thụ tốt dòng vốn và bứt tốc nhanh, trong khi các ngành gia công truyền thống thâm dụng lao động như dệt may (chỉ tăng 7,8%), da giày (tăng 3,4%) phục hồi chậm hơn. Nguyên nhân chủ yếu do sức ép từ cước vận tải biển neo cao và các rào cản thương mại mới làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành dệt may da giày.Cục Thống kê cũng chỉ ra, 9 tháng năm 2026, IIP tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 9% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong giai đoạn 2019 - 2026, IIP 9 tháng lần lượt tăng 9,6%; 2,5%; 3,9%; 9,3%; 0,2%; 8,4%; 9% và 12,3%.
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ đạo khi tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung của IIP. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; khai khoáng tăng 8%, đóng góp 1,3 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.Đà tăng được ghi nhận ở nhiều ngành công nghiệp trọng điểm. Sản xuất kim loại tăng 25,5%; sản xuất đồ uống tăng 17,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%.Các ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác và chế biến thực phẩm cùng tăng 12,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 12,3%. Ngành dệt tăng 10,2%, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 10%.Đà tăng của sản xuất công nghiệp cũng được phản ánh qua sản lượng một số sản phẩm chủ lực. Trong 9 tháng, sản lượng máy tính bảng tăng 36,5%; xe máy tăng 28,1%; máy tính xách tay tăng 26,2%; ô tô tăng 24,8%; thép cán tăng 22,4%.Thủy hải sản chế biến tăng 21,9%; đường kính tăng 18,8%; thép thanh, thép góc tăng 17,1%; bia tăng 14,7%; sắt, thép thô tăng 13,3% và thức ăn cho thủy sản tăng 12%.Xét theo địa phương, IIP 9 tháng năm 2026 tăng ở cả 34 địa phương, nhưng mức tăng có sự phân hóa khá rõ. Nhóm có tốc độ tăng cao tập trung ở các địa phương có quy mô công nghiệp lớn và sự đóng góp đáng kể của công nghiệp chế biến, chế tạo.Hà Tĩnh dẫn đầu với IIP tăng khoảng 40,2% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Ninh Bình tăng 25,0%, Thái Nguyên tăng 23,2%, Phú Thọ và Nghệ An cùng tăng 21,5%, Bắc Ninh tăng 20,2% và Quảng Ninh tăng 18,6%.Trong khi đó, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có tốc độ tăng thấp hơn mức chung cả nước. Cụ thể, IIP 9 tháng của TP. Hồ Chí Minh tăng 10,9% và Hà Nội tăng 9%, trong bối cảnh IIP toàn quốc tăng 12,3%.Tin liên quan
Trung tâm công nghiệp-năng lượng: Cộng sinh chuỗi giá trị
Với việc vận hành theo cơ chế hạ tầng dùng chung và trao đổi sản phẩm, việc hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng quốc gia quy mô lớn mô sẽ tạo nên chuỗi giá trị cộng sinh.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamNghị quyết 20-NQ/TW: Khánh Hòa hướng phát triển kinh tế biển xanh, thông minh
Tỉnh Khánh Hòa kế thừa có chọn lọc kết quả, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế biển của hai tỉnh trước khi hợp nhất.
-
Kinh tế Việt NamThái Nguyên phấn đấu tăng trưởng kinh tế quý IV đạt từ 11% trở lên
Tỉnh Thái Nguyên tập trung triển khai đối với các chỉ tiêu, lĩnh vực còn chậm, chủ động tháo gỡ vướng mắc cho từng chỉ tiêu, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế quý IV đạt từ 11% trở lên.
-
Kinh tế Việt NamTây Ninh đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, thu hút hơn 838 triệu USD FDI
Trong 9 tháng năm 2026, Tây Ninh cấp mới 113 dự án FDI với hơn 838 triệu USD, trong khi kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 27,04 tỷ USD, tăng 17,5% so cùng kỳ.
-
Kinh tế Việt NamBắc Ninh khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong thu hút đầu tư, đóng góp ngân sách
Sáng 5/10, UBND thành phố Bắc Ninh tổ chức khen thưởng 4 tập thể, 2 cá nhân có thành tích trong thu hút đầu tư, đóng góp ngân sách địa phương
-
Kinh tế Việt NamPhát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trân trọng giới thiệu bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra sáng 5/10.
-
Kinh tế Việt NamKhai mạc trọng thể Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Sáng 5/10, Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.
-
Kinh tế Việt NamHải Phòng đổi mới phương thức lãnh đạo, tạo xung lực tăng trưởng
Hải Phòng cụ thể hóa Nghị quyết 28-NQ/TW bằng các mô hình cải cách, hành chính công và hỗ trợ doanh nghiệp, góp phần nâng hiệu quả quản lý và thúc đẩy GRDP 9 tháng tăng 12,08%.
-
Kinh tế Việt NamTP. Hồ Chí Minh: Nỗ lực vượt khó, góp phần vào tăng trưởng chung của cả nước
GRDP quý III/2026 của TP. Hồ Chí Minh tăng 9,86%, cho thấy động lực tăng trưởng của các hoạt động kinh tế tiếp tục được củng cố. Thành phố nỗ lực vượt khó, góp phần vào tăng trưởng chung của cả nước.
-
Kinh tế Việt NamBắc Ninh tăng trưởng 11,81%, hướng tới mục tiêu 12,5% năm 2026
GRDP thành phố Bắc Ninh 9 tháng năm 2026 tăng 11,81%, nhờ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng tốc, tạo nền tảng để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 12,5% cả năm.













