BNEWS Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng được Tổng cục Thống kê công bố tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước..
Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, tuy vẫn thấp hơn mức tăng 7,4% của cùng kỳ năm 2016 nhưng cao hơn mức tăng 5,2% của 4 tháng đầu năm nay.
Theo Tổng cục Thống kê, trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,4%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7%; riêng ngành khai khoáng giảm 9,1%. Trong 5 tháng đầu năm, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước là ti vi tăng 42,8%; sắt, thép thô tăng 29,6%; thép cán tăng 27,7%; phân u rê tăng 18,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên, sơn hóa học, sữa bột, điện sản xuất tăng từ 10,3% đến tăng 15,3%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là ô tô tăng 2,4%; than đá tăng 1,1%; thuốc lá điếu tăng 0,9%; đường kính tăng 0,7%. các sản phẩm điện thoại di động; khí hóa lỏng (LPG); giày, dép da; khí đốt thiên nhiên, dầu thô giảm từ 0,6% đến 13,6%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm nay của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn so với cùng kỳ năm trước có mức tăng từ 5% đến 20,5%; trong đó các tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Thái Nguyên, Hải Phòng tăng lần lượt 10,8%, 17%, 20,5%.Các tỉnh, thành phố Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hải Dương, Đồng Nai ở mức tăng dưới 10%, trong khi Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 5%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2017 giảm 0,9% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 9,3%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/5/2017 tăng 11% so với cùng thời điểm năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 8,7%).Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm gồm sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 1,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,6%; sản xuất thuốc lá giảm 16,3%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 43,1%.
Bên cạnh đó, có một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung như sản xuất kim loại tăng 82,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 69,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 50,1%; sản xuất thiết bị điện, sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (chủ yếu là xi măng), đồ uống tăng từ 26,2% đến 40,6%. Tổng cục Thống kê cũng cho biết, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2017 tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,6%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,8%. Cụ thể, lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như Bắc Ninh tăng 17,7%; Vĩnh Phúc tăng 16%; Bình Dương tăng 6,4%; Hải Dương tăng 6,3%; Hải Phòng tăng 5,6%.Các tỉnh, thành phố Thái Nguyên, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Cần Thơ, Tp. Hồ Chí Minh tăng nhẹ từ 0,2% đến 4%. Trong khi đó, lao động trong các doanh nghiệp của Bà Rịa Vũng Tàu giảm 8,6%./.
Tin liên quan
Chỉ số sản xuất công nghiệp cả nước trong 4 tháng tăng thấp
Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so mức tăng của cùng kỳ năm 2016 nhưng cao hơn mức tăng 4,2% của quý I năm nay.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamXử lý tài sản công dôi dư: Vẫn còn khoảng cách từ chủ trương đến thực tiễn
Theo Bộ Tài chính, cả nước hiện có hơn 11.000 cơ sở nhà, đất đã được thu hồi hoặc chuyển giao về địa phương nhưng vẫn cần tiếp tục xử lý để đưa vào sử dụng.
-
Kinh tế Việt NamTăng cường hợp tác đầu tư với tỉnh Aichi (Nhật Bản)
Theo thông tin từ Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn vừa có buổi làm việc với Ngài Ohmura Hideaki, Thống đốc tỉnh Aichi (Nhật Bản).
-
Kinh tế Việt NamNghị quyết số 10-NQ/TW: Kiến tạo dòng vốn FDI chất lượng cao
Sau nhiều năm duy trì sức hút đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ thu hút đầu tư theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng dòng vốn.
-
Kinh tế Việt NamĐịnh vị chiến lược và kiến tạo động lực phát triển trong kỷ nguyên mới
Sau hợp nhất, Đắk Lắk có không gian tự nhiên rộng hơn, quy mô dân số lớn hơn, hệ thống hành chính đa dạng và khả năng liên kết vùng sâu rộng hơn.
-
Kinh tế Việt NamKinh tế tuần hoàn - Động lực phát triển xanh hướng tới bền vững
Với hệ thống chính sách đã được ban hành tương đối đồng bộ, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để biến thách thức môi trường thành động lực phát triển mới.
-
Kinh tế Việt NamCửa ngõ để hàng Việt tiếp cận thị trường Nam Mỹ
Uruguay không chỉ là một thị trường giàu tiềm năng mà còn giữ vai trò cửa ngõ quan trọng để hàng hóa Việt Nam tiếp cận khu vực Nam Mỹ.
-
Kinh tế Việt NamNghị quyết số 57-NQ/TW: Chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã ban hành Thông báo số 24-CQTTBCĐ ngày 7/7/2026.
-
Kinh tế Việt NamQuản trị rủi ro vượt "sóng cả" thị trường
Ngành dệt may Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược khi chuyển từ phân khúc gia công giá rẻ sang bứt phá tại các thị trường cao cấp quốc tế.
-
Kinh tế Việt NamTP. HCM mở rộng không gian, tạo sức bật mới cho du lịch
Thống kê của ngành chức năng, khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh 6 tháng đầu năm 2026 đạt 6.396.102 lượt, khách nội địa 27.315.000 lượt, tổng thu du lịch đạt 213.980 tỷ đồng.












