Điều chỉnh quy hoạch vùng: Tối ưu nguồn lực, tạo “nền” vững chắc cho tăng trưởng hai con số

18:27' - 16/04/2026
BNEWS Nếu được triển khai hiệu quả, các quy hoạch này sẽ góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trở lên trong bối cảnh những diễn biến nhanh, rộng của tình hình quốc tế tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội. Có những ý kiến lo ngại về khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, nhằm làm rõ nền tảng, nguồn lực cho tăng trưởng hai con số, phóng viên TTXVN đã phỏng vấn TS. Bùi Quý Thuấn, chuyên gia kinh tế, Trưởng Ban Nghiên cứu Tổng hợp – Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), Hiệp hội Tư Vấn Tài chính Việt Nam xung quanh về tác động điều chỉnh quy hoạch 6 vùng kinh tế - xã hội cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Phóng viên: Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 6 vùng kinh tế - xã hội thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây được đánh giá là bước đi quan trọng nhằm tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia, tạo động lực mới cho tăng trưởng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Thưa ông, việc điều chỉnh quy hoạch 6 vùng kinh tế - xã hội lần này sẽ tạo ra những thay đổi căn bản nào trong cấu trúc phát triển kinh tế - xã hội?

TS. Bùi Quý Thuấn: Các quyết định điều chỉnh quy hoạch được phê duyệt ngày 4/4/2026 đã tạo ra những thay đổi mang tính nền tảng trong cấu trúc phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trước hết là sự thay đổi trong tư duy và tổ chức không gian phát triển theo hướng hiện đại, tích hợp và liên kết chặt chẽ hơn.

Điểm cốt lõi là tổ chức lại không gian phát triển theo các hành lang kinh tế, vùng động lực và cực tăng trưởng, qua đó khắc phục tình trạng phát triển dàn trải, thiếu liên kết trước đây. Cách tiếp cận này giúp hình thành các trục phát triển có tính lan tỏa cao, thúc đẩy liên kết nội vùng và liên vùng, đồng thời tận dụng tốt hơn lợi thế so sánh của từng địa phương.

Cụ thể, vùng Đồng bằng sông Hồng tiếp tục được xác định là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, giữ vai trò dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng của cả nước. Vùng này sẽ phát huy mạnh mẽ lợi thế về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như chiều sâu văn hóa – lịch sử.

Đối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc, quy hoạch điều chỉnh nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kết nối thông qua các hành lang kinh tế, đặc biệt là trục Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Đây sẽ là trục động lực quan trọng, kết nối khu vực miền núi với đồng bằng và hệ thống cảng biển, tạo điều kiện thúc đẩy giao thương, du lịch và phát triển công nghiệp chế biến.

Các vùng khác cũng được tổ chức lại theo hướng phát huy lợi thế riêng, tăng cường kết nối hạ tầng, hình thành mạng lưới phát triển đồng bộ trên phạm vi cả nước, từ đó, nâng cao hiệu quả tổng thể của nền kinh tế.

Đây được đánh giá là bước đi quan trọng nhằm tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia, tạo động lực mới cho tăng trưởng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Phóng viên: Xin ông cho biết ý nghĩa tổng thể của việc điều chỉnh quy hoạch lần này?

TS. Bùi Quý Thuấn: Có thể khẳng định, điều chỉnh quy hoạch 6 vùng không chỉ khắc phục những hạn chế trước đây mà còn tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới dựa trên liên kết vùng, đổi mới sáng tạo và tối ưu sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Nếu được triển khai hiệu quả, các quy hoạch này sẽ góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Phóng viên: Một điểm rất đáng chú ý là định hướng chuyển dịch mô hình tăng trưởng. Ông có thể phân tích rõ hơn nội dung này?

TS. Bùi Quý Thuấn: Có thể nói, chuyển dịch mô hình tăng trưởng là nội dung mang tính đột phá của lần điều chỉnh quy hoạch này. Chúng ta chuyển từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Cụ thể, vùng Đồng bằng sông Hồng sẽ chuyển từ các động lực truyền thống sang đóng vai trò dẫn dắt cả nước với các ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, nông nghiệp công nghệ cao, gắn với kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc sẽ giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thô, chuyển sang phát triển kinh tế rừng, nông nghiệp đặc sản, du lịch văn hóa dân tộc, kinh tế cửa khẩu, công nghiệp chế biến và năng lượng tái tạo. Khoa học – công nghệ và chuyển đổi số sẽ là động lực chính.

Vùng Bắc Trung Bộ được định hướng chuyển mạnh sang phát triển kinh tế biển, kết hợp với kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế ban đêm, hình thành các vùng động lực ven biển có sức lan tỏa lớn.

Đối với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trọng tâm là phát triển năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến, công nghệ cao, du lịch và dịch vụ logistics, đồng thời phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với điều kiện tự nhiên đặc thù.

Vùng Đông Nam Bộ tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu, hướng tới trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, logistics và công nghiệp công nghệ cao hàng đầu khu vực Đông Nam Á, dẫn dắt các mô hình tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Trong khi đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long chuyển từ mô hình nông nghiệp truyền thống sang kinh tế sinh thái, nông nghiệp bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu theo hướng “thuận thiên”, gắn với phát triển xanh và carbon thấp.

Những định hướng này cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt từ “tăng trưởng nhanh” sang “tăng trưởng xanh, bền vững và bao trùm”, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu.

Phóng viên: Thưa ông, việc phân bổ và sử dụng nguồn lực trong quy hoạch mới được đặt ra như thế nào?

TS. Bùi Quý Thuấn: Một điểm rất quan trọng là phân bổ nguồn lực theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm nhằm tạo ra các đột phá phát triển.

Trước hết là ưu tiên đầu tư cho hạ tầng chiến lược, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối như các tuyến đường bộ cao tốc trục dọc Bắc Nam, trục ngang, các tuyến vành đai quanh các đô thị lớn như Hà Nội, TP. HCM, đặc biệt xây dựng và phát triển mạng lưới đường sắt cao tốc Bắc Nam kết nối vùng và quốc tế, cùng với hệ thống cảng biển cửa ngõ quốc tế và cảng hàng không. Song song với đó là phát triển hạ tầng số nhằm góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.

Nguồn lực cho phát triển con người cũng được chú trọng, nhất là tại các cực tăng trưởng như: Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh nhằm hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, việc sử dụng đất đai và tài nguyên được điều chỉnh linh hoạt hơn để phục vụ các dự án trọng điểm, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường, diện tích rừng và an ninh nguồn nước.

Phóng viên: Trong bối cảnh quy hoạch mới, vai trò của các đầu tàu như: Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh được tái định vị ra sao, thưa ông?

TS. Bùi Quý Thuấn: Hai đô thị này được tái định vị không chỉ là trung tâm kinh tế lớn mà còn là các siêu đô thị kết nối toàn cầu, đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt và lan tỏa phát triển.

Hà Nội được xác định là cực tăng trưởng trung tâm của miền Bắc, giữ vai trò hạt nhân của vùng Đồng bằng sông Hồng, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và đổi mới sáng tạo của cả nước.

TP. Hồ Chí Minh được định hướng trở thành siêu đô thị mang tầm quốc tế, trung tâm tài chính, dịch vụ logistics và công nghiệp công nghệ cao của khu vực châu Á, là đầu tàu trong chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh.

Điểm quan trọng là cơ chế lan tỏa phát triển. Thông qua đầu tư hạ tầng và các hành lang kinh tế, các đô thị này sẽ kết nối với các địa phương lân cận, hình thành các vành đai công nghiệp – đô thị – dịch vụ. Đồng thời, các hoạt động giá trị cao như nghiên cứu, thiết kế, tài chính sẽ tập trung tại trung tâm, còn sản xuất được phân bổ hợp lý sang các vùng phụ cận.

Lan tỏa còn được thúc đẩy thông qua đào tạo nguồn nhân lực, phát triển dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao và mô hình đô thị theo định hướng giao thông công cộng, giúp mở rộng không gian phát triển và giảm áp lực cho khu vực lõi.

Phóng viên: Để các quy hoạch vùng phát huy hiệu quả để từ đó tạo đà phát triển nhanh, bền vững đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của cả nước, theo ông cần ưu tiên những giải pháp nào về thể chế, đầu tư hạ tầng, phân cấp – phân quyền và huy động nguồn lực xã hội?

TS. Bùi Quý Thuấn: Để đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, đặc biệt hướng tới tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Về thể chế, cần xây dựng cơ chế đặc thù cho liên kết vùng, hoàn thiện hành lang pháp lý để triển khai các dự án liên vùng, đồng thời nâng cao vai trò của các hội đồng điều phối vùng nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quy hoạch.

Về hạ tầng, cần tập trung phát triển các công trình chiến lược, bao gồm giao thông liên vùng (đường bộ và đường sắt cao tốc), hạ tầng số, hạ tầng năng lượng (bao gồm năng lượng hạt nhân và tái tạo) và các công trình thích ứng biến đổi khí hậu, đặc biệt tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Về phân cấp, cần tăng cường trao quyền cho các địa phương trong quyết định đầu tư và huy động vốn, đi đôi với kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu quả quản lý và tổ chức bộ máy tinh gọn.

Về huy động nguồn lực, ngân sách nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”, trong khi khu vực tư nhân và nguồn lực quốc tế là động lực chính. Cần đẩy mạnh các hình thức đối tác công tư, khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai và phát triển tài chính xanh để thu hút đầu tư.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục