Định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tạo động lực lớn cho cộng đồng khoa học Việt Nam

18:53' - 26/05/2026
BNEWS Phóng viên TTXVN đã trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về tổng quan lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang ngày càng được xác định là động lực then chốt cho phát triển đất nước, trong đó nghiên cứu khoa học cơ bản giữ vai trò nền tảng để hình thành tri thức mới và công nghệ lõi.

Tại buổi làm việc (25/5) của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì, nhiều vấn đề lớn liên quan đến phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đã được đặt ra, từ cơ chế đầu tư, phát triển nhân lực đến xây dựng hạ tầng nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi.

Phóng viên TTXVN đã trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về tổng quan lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản, những điểm nghẽn hiện nay cũng như định hướng phát triển trong thời gian tới.

Phóng viên: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản đối với phát triển đất nước trong giai đoạn mới là nền móng tri thức của quốc gia; là cơ sở hình thành công nghệ lõi, nguồn nhân lực tinh hoa, năng lực dự báo chiến lược, năng lực hoạch định chính sách và năng lực tự chủ phát triển trong dài hạn. Giáo sư đánh giá như thế nào về vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ quốc gia?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh: Muốn trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao, Việt Nam không thể chỉ dừng ở gia công công nghệ mà phải có năng lực tạo ra tri thức mới và công nghệ lõi. Trong tiến trình đó, nghiên cứu khoa học cơ bản giữ vai trò nền tảng, điểm khởi đầu của năng lực đó.

Trong các chiến lược phát triển khoa học công nghệ quốc gia, Đảng và Nhà nước luôn xác định khoa học cơ bản là nền tảng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tinh thần này tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia với quan điểm đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản là đầu tư lâu dài cho phát triển bền vững.

Trước hết, nghiên cứu khoa học cơ bản tạo ra tri thức mới, làm cơ sở cho sự hình thành các công nghệ hiện đại. Nghiên cứu khoa học cơ bản đồng thời là nguồn gốc của đổi mới sáng tạo và các công nghệ tương lai. Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học cơ bản ban đầu chưa thể ứng dụng ngay, nhưng sau một thời gian dài lại trở thành nền tảng cho các ngành công nghệ quan trọng, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Bên cạnh đó, nghiên cứu khoa học cơ bản góp phần nâng cao năng lực tự chủ của quốc gia. Khi làm chủ được tri thức và các hướng nghiên cứu mới, Việt Nam sẽ từng bước hình thành năng lực nội sinh của nền kinh tế thông qua khoa học công nghệ, giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Đây cũng là môi trường để đào tạo đội ngũ chuyên gia trình độ cao, qua đó khẳng định năng lực khoa học công nghệ của đất nước.

Phóng viên: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ một số "điểm nghẽn" lớn đang cản trở sự phát triển của khoa học cơ bản Việt Nam thời gian qua. Theo Giáo sư, đâu là "điểm nghẽn" lớn nhất hiện nay?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh: Theo tôi, điểm nghẽn của nghiên cứu khoa học cơ bản hiện nay không còn nằm ở chủ trương hay nhận thức bởi vai trò của khoa học cơ bản đã được khẳng định rất rõ trong các chiến lược quốc gia. Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chính sách rất rõ ràng, đặc biệt là Nghị quyết 57. Vấn đề chủ yếu hiện nay nằm ở thể chế, cơ chế vận hành và năng lực hệ thống khoa học. Trong đó, khó khăn lớn nhất vẫn là cơ chế quản lý và tài chính còn nặng tính hành chính. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản còn thấp và phân tán, thiếu các chương trình lớn kéo dài 10-20 năm; thiếu quỹ tài trợ quy mô lớn theo chuẩn quốc tế dẫn đến khó duy trì nhóm nghiên cứu mạnh lâu dài. Các quốc gia phát triển đều có những chương trình đầu tư dài hạn với nguồn lực lớn để duy trì ổn định các nhóm nghiên cứu mạnh.

Một hạn chế khác là hạ tầng nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học cơ bản muốn phát triển cần có hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, đạt chuẩn quốc tế cùng nguồn kinh phí vận hành ổn định để khai thác hiệu quả trang thiết bị. Hiện nay, nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm được đầu tư từ khá lâu, đã hết thời hạn sử dụng, thiếu thiết bị hiện đại, không có kinh phí vận hành ổn định; thiếu nguồn bảo trì, nâng cấp trong khi yêu cầu của nghiên cứu hiện đại ngày càng cao. Nếu không giải quyết được các vấn đề này, Việt Nam sẽ khó triển khai những chương trình khoa học lớn mang tính nền tảng cho các công nghệ chiến lược trong tương lai (hay còn gọi là big science).

Tuy nhiên, với việc triển khai Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025, các chủ trương lớn từ Nghị quyết 57 và tinh thần quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi tin tưởng, những "điểm nghẽn" này sẽ từng bước được tháo gỡ, tạo điều kiện để khoa học cơ bản có đóng góp mạnh mẽ hơn cho phát triển đất nước.

Phóng viên: Theo Giáo sư, nghiên cứu khoa học cơ bản cần được phát triển như thế nào để vừa bảo đảm tính hàn lâm, tự do học thuật, vừa gắn với yêu cầu thực tiễn của đất nước, qua đó tạo môi trường đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân đội ngũ nhân lực khoa học chất lượng cao?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh: Nghiên cứu khoa học cơ bản là hoạt động nhằm tạo ra tri thức mới, vì vậy cần phân biệt rõ giữa nghiên cứu khoa học cơ bản thuần túy và nghiên cứu khoa học cơ bản định hướng ứng dụng. Đối với nghiên cứu khoa học cơ bản thuần túy, mục tiêu là khám phá những tri thức chưa từng có, dù trước mắt chưa đặt ra yêu cầu ứng dụng cụ thể. Trong khi đó, nghiên cứu khoa học cơ bản định hướng ứng dụng sẽ tập trung vào các công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.

Nghiên cứu khoa học cơ bản muốn phát triển bền vững trong giai đoạn mới phải giải quyết đồng thời hai yêu cầu tưởng như mâu thuẫn nhưng thực chất bổ trợ cho nhau: Giữ vững tính hàn lâm, tự do học thuật và tăng cường đóng góp trực tiếp cho phát triển đất nước.

Hiện nay, nhiều hướng nghiên cứu của Viện Hàn lâm đang đi theo định hướng này. Điển hình là các nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý, toán học, công nghệ thông tin đang hướng tới tính toán lượng tử và công nghệ lượng tử; nghiên cứu vật liệu phục vụ phát triển năng lượng mới như hydro, vật liệu cho ngành hàng không vũ trụ hay các lĩnh vực công nghệ cao khác. Đây sẽ là những hướng ưu tiên trong giai đoạn tới nhằm vừa phát triển tri thức nền tảng, vừa phục vụ trực tiếp các nhu cầu phát triển chiến lược của đất nước.

Phóng viên: Bài toán phát triển nguồn nhân lực cho nghiên cứu khoa học cơ bản đang đặt ra khá cấp thiết trong yêu cầu xây dựng đội ngũ khoa học công nghệ trình độ cao cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Ông nhìn nhận như thế nào về thực trạng nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học cơ bản hiện nay và cần có những giải pháp gì để thu hút, giữ chân các nhà khoa học trẻ?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh: Theo tôi, cần có chính sách đồng bộ xuyên suốt từ giáo dục phổ thông đến đại học, sau đại học và các viện nghiên cứu để phát triển nguồn nhân lực cho khoa học cơ bản.

Ngay từ bậc phổ thông cần phát triển các chương trình STEM, phát hiện, định hướng và bồi dưỡng học sinh có năng lực nghiên cứu khoa học. Khi theo học các ngành khoa học cơ bản ở bậc đại học, các em cũng cần được bảo đảm điều kiện học tập, nghiên cứu cũng như cơ hội nghề nghiệp rõ ràng tại các viện nghiên cứu, trường đại học.

Hiện nay, phần lớn học sinh giỏi vẫn tập trung vào các ngành kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh, trong khi học sinh có năng lực tham gia học tập nghiên cứu lĩnh vực khoa học cơ bản còn khá mỏng. Nếu không có chính sách hỗ trợ, ưu đãi, chiến lược dài hạn thì sẽ khó hình thành đội ngũ nhà khoa học trình độ cao trong tương lai. Do đó, cần sớm triển khai các chương trình đào tạo nhân tài khoa học, đào tạo tiến sĩ và xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, thu hút nhân tài trong và ngoài nước để từng bước hình thành lực lượng khoa học có trình độ quốc tế.

Trong thời gian tới, Viện Hàn lâm sẽ xây dựng các chương trình thu hút nhà khoa học theo nhiều hình thức linh hoạt, từ hợp tác ngắn hạn đến làm việc dài hạn; đồng thời tăng cường cơ chế trao đổi học thuật hai chiều để các nhà khoa học trong nước có điều kiện làm việc tại các viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm quốc tế và quay trở lại phát triển các nhóm nghiên cứu trong nước.

Tôi cho rằng những kết luận và định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ tạo động lực rất lớn cho cộng đồng khoa học Việt Nam. Khi có sự cam kết mạnh mẽ từ người đứng đầu Đảng và Nhà nước đối với phát triển khoa học cơ bản, các nhà khoa học sẽ có thêm niềm tin để theo đuổi các hướng nghiên cứu dài hạn và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục