Đòn bẩy kinh tế thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính

  • Nguyễn Long/Bnews/TTXVN

BNEWS Thuế các-bon đang được nhiều quốc gia áp dụng như một công cụ kinh tế hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

Thay vì chỉ dựa vào các quy định hành chính, công cụ này tạo ra động lực tài chính để các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn năng lượng và những ngành phát thải lớn, chủ động đầu tư công nghệ sạch, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và cắt giảm lượng phát thải.

Về bản chất, thuế các-bon được tính dựa trên lượng khí nhà kính phát thải quy đổi theo CO₂ tương đương. Doanh nghiệp phát thải càng nhiều sẽ phải nộp mức thuế càng lớn. Cơ chế này giúp "đưa chi phí môi trường" vào giá thành sản xuất, buộc các đơn vị phát thải phải cân nhắc giữa việc tiếp tục sử dụng công nghệ cũ hay đầu tư đổi mới để giảm lượng khí phát thải.

Đối với lĩnh vực năng lượng, nơi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng phát thải khí nhà kính, thuế các-bon được xem là một tín hiệu thị trường mạnh mẽ. Các nhà máy nhiệt điện, cơ sở khai thác và chế biến nhiên liệu hóa thạch hoặc doanh nghiệp sử dụng nhiều năng lượng sẽ có thêm động lực cải tiến công nghệ, nâng cao hiệu suất vận hành, tăng cường thu hồi khí mê-tan và chuyển dịch sang các nguồn năng lượng phát thải thấp hơn.

Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1. Ảnh: Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn

Các chuyên gia kinh tế cho rằng ưu điểm lớn nhất của thuế các-bon là tạo ra sự công bằng theo nguyên tắc "người gây phát thải nhiều phải trả chi phí nhiều hơn". Thay vì áp dụng một mức quy định giống nhau cho mọi doanh nghiệp, công cụ này khuyến khích mỗi đơn vị tự lựa chọn giải pháp giảm phát thải phù hợp với điều kiện sản xuất của mình. Doanh nghiệp cắt giảm phát thải hiệu quả sẽ giảm được chi phí thuế, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe.

Một điểm đáng chú ý là nguồn thu từ thuế các-bon không chỉ nhằm tăng ngân sách mà còn có thể trở thành nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng xanh. Nhiều quốc gia đã sử dụng nguồn thu này để đầu tư cho các quỹ bảo vệ môi trường, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ sạch, phát triển năng lượng tái tạo, cải thiện hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu hoặc hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới thiết bị nhằm giảm phát thải. Mô hình này tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực: hoạt động phát thải tạo ra nguồn thu cho ngân sách, còn nguồn thu đó lại được đầu tư trở lại vào các dự án giúp giảm phát thải trong tương lai. 

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu các công cụ định giá các-bon, trong đó có thuế các-bon, đang được đặt ra trong bối cảnh nước ta đã cam kết giảm ít nhất 30% phát thải khí mê-tan vào năm 2030 so với năm 2020 và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Đây cũng là xu hướng phù hợp với quá trình xây dựng thị trường các-bon trong nước và hội nhập với các cơ chế điều chỉnh các-bon đang được nhiều đối tác thương mại triển khai.

Trong dài hạn, thuế các-bon không chỉ là công cụ tài chính mà còn là động lực thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi tư duy phát triển. Khi chi phí phát thải được phản ánh đầy đủ vào hoạt động sản xuất, đầu tư cho công nghệ sạch và giảm phát thải sẽ trở thành lựa chọn mang lại lợi ích kinh tế. Đây được xem là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam xây dựng nền kinh tế phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững trong những thập niên tới.

Nguyễn Long/Bnews/TTXVN


Tin cùng chuyên mục