Giá thức ăn tăng, người chăn nuôi giảm đàn để “giữ sức”

  • Hương Giang/vnanet.vn

BNEWS Giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng từ đầu năm đến nay, buộc người chăn nuôi tại TP. Hồ Chí Minh phải tính toán lại quy mô sản xuất.

Thay vì tiếp tục duy trì đàn trong điều kiện chi phí đầu vào tăng nhưng giá bán khó đoán định, nhiều hộ lựa chọn giảm đàn, giảm số chuồng hoặc điều chỉnh sản lượng để hạn chế thua lỗ. Về lâu dài, bài toán liên kết để hình thành quy mô sản xuất lớn, ổn định đầu ra và tận dụng phụ phẩm, phát triển vùng nguyên liệu đang được đặt ra nhằm giảm chi phí và tăng sức chống chịu cho ngành chăn nuôi.

Giá thức ăn tăng, người chăn nuôi giảm đàn để “giữ sức”. Ảnh minh họa: TTXVN
* Giảm đàn để “giữ sức” trước áp lực chi phí

Trong chăn nuôi, giá thức ăn luôn chiếm phần lớn trong giá thành. Việc giá thức ăn tăng mạnh từ đầu năm đến nay đang gây sức ép không nhỏ đến sản xuất của người dân. Theo ông Phạm Trường Giang, Giám đốc Công ty TNHH Trang Linh, tính đến nay, giá thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam đã tăng khoảng 15-18%, mức tăng cao so với những năm trước.

Công ty TNHH Trang Linh hiện có khoảng 3.600 lợn nái và 46.000 lợn thịt, sử dụng hơn 2.400 tấn thức ăn mỗi tháng. Với chi phí hiện nay, tiền thức ăn của doanh nghiệp xấp xỉ 30 tỷ đồng/tháng. Riêng đợt tăng 400 đồng/kg thức ăn chăn nuôi từ đầu tháng 10 này đã khiến chi phí của doanh nghiệp tăng thêm khoảng 1 tỷ đồng mỗi tháng.

“Trong điều kiện giá thức ăn tăng nhưng giá bán lợn không phải lúc nào cũng tăng tương ứng, doanh nghiệp buộc phải tính toán lại đàn nuôi. Giải pháp trước mắt là giảm tỷ lệ nuôi lợn thịt, đồng thời xuất bán một số lợn cai sữa để giảm mật độ tổng đàn, qua đó giảm lượng thức ăn sử dụng và áp lực lên dòng tiền. Doanh nghiệp chấp nhận giảm lãi để giảm bớt rủi ro từ giá thức ăn tăng”, ông Phạm Trường Giang cho biết.

Đối với chăn nuôi gia cầm, chi phí thức ăn chăn nuôi chiếm từ 65 – 70%. Khó khăn nhân đôi với các trang trại khi giá thức ăn tăng, nhưng đầu ra lại giảm. Theo bà Phạm Mỹ Kiều, chủ hộ chăn nuôi Phạm Mỹ Kiều, phường Long Nguyên, TP. Hồ Chí Minh, trong khi giá thành chăn nuôi lên 28.000 đồng/kg, giá bán thị trường dao động ở mức 29.000 đồng/kg, người chăn nuôi gần như không có lãi, nếu không muốn nói là lỗ.

Trong bối cảnh đầu vào liên tục biến động tăng, đầu ra bị động và có xu hướng giảm, trang trại phải tính toán nhiều giải pháp để hạn chế thấp nhất thua lỗ.

“Chi phí thức ăn quá cao mà giá bán không đủ bù đắp, việc giảm đàn là cách để hạn chế mức lỗ. Tại trang trại tôi, tổng đàn được cơ cấu giảm xuống đáng kể. Thí dụ như một trại trước đây nuôi từ 7-8 chuồng thì giờ chỉ duy trì 4-5 chuồng, mình không thể để chuồng trống quá lâu, nhưng giảm tổng đàn để giảm mức lỗ là giải pháp trước mắt, chờ thị trường ổn định trở lại”, bà Phạm Mỹ Kiều chia sẻ.

Như vậy, giảm đàn là cách để giảm rủi ro, giảm áp lực tài chính. Thế nhưng nếu thực trạng này kéo dài, ngành chăn nuôi sẽ ngày càng bấp bênh, giảm hiệu quả và giảm sức cạnh tranh. Điều này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam đang bị động trong chuỗi cung ứng thức ăn chăn nuôi.

Theo thống kê, mỗi năm nước ta nhập khẩu từ 22 – 24 triệu tấn nguyên liệu như đậu nành, ngô… tương đương 7 - 8 tỷ USD, chỉ một biến động nhỏ trên toàn cầu cũng tác động làm tăng chi phí sản xuất, đẩy người chăn nuôi vào thế khó. Nếu không có những chiến lược căn cơ, những giải pháp trước mắt mang tính đối phó của hộ chăn nuôi sẽ khó trụ vững trong vòng xoáy giá cả.

* Tìm giải pháp căn cơ cho ngành chăn nuôi

Theo ông Phan Xuân Thảo, Chủ tịch Hội Chăn nuôi và Thú y TP. Hồ Chí Minh, hiện TP. Hồ Chí Minh có hơn 39.000 nông hộ chăn nuôi và khoảng 2.111 trang trại lớn, vừa và nhỏ. Trước mắt, để giảm rủi ro từ giá thức ăn chăn nuôi, mô hình chăn nuôi tuần hoàn, trong đó tận dụng các phế, phụ phẩm trong trồng trọt để thay thế một phần thức ăn, được xem là giải pháp hiệu quả.

“Hiện nay nguồn phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp khá lớn. Nếu tận dụng hiệu quả và triệt để, biến phụ phẩm thành thức ăn chăn nuôi, sẽ giải quyết một phần bài toán hóc búa hiện nay. Để làm được, cần hình thành chuỗi liên kết trong đó đầu ra của cơ sở này có thể trở thành đầu vào của cơ sở khác. Đây chính là nền tảng để phát triển nông nghiệp tuần hoàn.”, ông Phan Xuân Thảo cho biết.

Tuy nhiên, đại diện Hội Chăn nuôi và Thú y TP. Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh, nếu chỉ yêu cầu người chăn nuôi tiết giảm chi phí ở khâu cuối cùng thì khó giải quyết được căn cơ vấn đề. Do đó, giải pháp đưa ra là phải tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu trong nước và tăng cường liên kết để tạo quy mô đủ lớn.

Ông Phan Xuân Thảo phân tích, phụ phẩm từ trồng trọt, chế biến thủy sản, thực phẩm nếu được xử lý và kiểm soát an toàn phù hợp có thể trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ chăn nuôi. Ngược lại, chất thải chăn nuôi có thể được xử lý để sản xuất phân bón, quay trở lại phục vụ trồng trọt, từ đó tăng hiệu quả sản xuất, giảm chi phí.

Ở góc độ tổ chức lại chuỗi ngành hàng, thực tế từ Hợp tác xã Chăn nuôi công nghệ cao Long Thành Phát cho thấy, liên kết đang là một hướng để người chăn nuôi giảm sự phụ thuộc vào biến động thị trường.

Theo ông Trần Văn Ngọc, thành viên Hội đồng quản trị hợp tác xã, đơn vị hiện điều hành 11 khu chăn nuôi tại TP. Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh và Tây Ninh. Xuất phát điểm là những trang trại chăn nuôi nhỏ lẻ trong nhiều năm nhưng hiệu quả kinh tế hạn chế, các thành viên đã chuyển sang mô hình hợp tác xã, tập hợp đàn và xây dựng chuỗi sản xuất mang lại giá trị cao.

Hiện hệ thống có tổng đàn khoảng 3 triệu con/lứa, tương đương 12 triệu gia cầm mỗi năm. Việc hình thành quy mô đủ lớn giúp hợp tác xã có điều kiện xây dựng các chuỗi liên kết với doanh nghiệp, trong đó có chuỗi phục vụ xuất khẩu và chuỗi tiêu thụ nội địa. Quan trọng hơn, với quy mô đủ lớn, hợp tác xã xây dựng kế hoạch bài bản từ sản xuất đến chi phí, có kế hoạch đàn hợp lý, giảm thiểu rủi ro từ biến động giá đầu vào và đầu ra.

“Không có lợi nhuận cao nhưng có tính ổn định cao. Bên cạnh đó chúng tôi cũng tập trung nâng cao chất lượng, làm cơ sở để mở rộng quy mô đàn”, ông Ngọc chia sẻ.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cũng nhấn mạnh, bài toán căn cơ nhất hiện nay là Việt Nam phải chủ động trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, bằng cách hình thành các vùng trồng nguyên liệu đủ lớn để phục vụ cho sản xuất trong nước, đồng thời từng bước tăng năng lực của các doanh nghiệp nội, bên cạnh những nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài.

Đây cũng là định hướng Công ty TNHH Trang Linh đang đeo đuổi. Theo ông Phạm Trường Giang, từ phụ phẩm chăn nuôi, doanh nghiệp đã sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh đạt chuẩn, đồng thời tính toán phát triển các vùng trồng bắp, đậu tương, khoai mì để tạo nguồn nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi.

Doanh nghiệp hiện đã đầu tư khoảng 40 ha vùng trồng dược liệu và đang đàm phán với một số địa phương, định hướng mở rộng vùng nguyên liệu tại Tây Nguyên lên khoảng 1.000 ha. Việc chủ động được một phần nguyên liệu trong nước sẽ giúp giảm tác động từ tỷ giá, chi phí logistics và nhập khẩu. Tuy nhiên, để mở rộng mô hình, doanh nghiệp cần được tiếp cận quỹ đất và nguồn vốn phù hợp với đặc thù đầu tư nông nghiệp dài hạn.

Từ thực tế của ngành chăn nuôi cho thấy, những giải pháp giảm đàn “giữ sức” trước áp lực giá thực ăn chăn nuôi chỉ mang tính tình thế, về lâu dài sẽ bào mòn sức cạnh tranh và hiệu quả của ngành chăn nuôi. Do đó, giải pháp căn cơ nằm ở việc liên kết để có quy mô đủ lớn, liên kết để ổn định đầu ra tận dụng tốt hơn các nguồn nguyên liệu trong nước, qua đó từng bước giảm áp lực chi phí, giảm rủi ro khi thị trường biến động.

Khi chuyển từ cách ứng phó bị động trước từng đợt tăng giá thức ăn sang xây dựng một chuỗi chăn nuôi có khả năng tự chủ và chống chịu tốt hơn trước biến động của thị trường, ngành chăn nuôi mới đạt được mục tiêu phát triển bền vững và hiệu quả.

Hương Giang/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục