Giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng nhưng quan trọng hơn phải tăng dự trữ

  • Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Bên cạnh việc đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%, các chuyên gia cũng cho rằng giải pháp nền tảng để bình ổn thị trường nhiên liệu này vẫn phải là tăng dự trữ.

Khách đến mua xăng dầu tại cửa hàng Petrolimex trên đường Tam Trinh. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
Với quyền số nhóm xăng dầu chiếm 4,53% trong rổ hàng hóa tính Chỉ số giá tiêu dùng (CPI); trong đó xăng chiếm tới 4,49%, việc Chính phủ quyết định đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với các loại xăng về 0% từ ngày 1/11/2026 đến hết tháng 3/2027 sẽ giúp bình ổn thị trường trong nước những tháng cuối năm và dịp Tết Nguyên đán Đinh Mùi 2027, từ đó góp phần giảm bớt áp lực giá nhiên liệu cho người dân, doanh nghiệp cũng như kiểm soát lạm phát chung. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng giải pháp nền tảng để bình ổn thị trường nhiên liệu này vẫn phải là tăng dự trữ.

* Đạt được nhiều mục tiêu từ “van điều tiết” thuế

Ngay khi thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%, giá xăng trên thị trường đã được điều chỉnh giảm ngay trong ngày 1/11, không tuân theo quy luật điều chỉnh giá mặt hàng này vào chiều thứ Năm thông thường. Theo đó, giá bán lẻ xăng E5RON92 không cao hơn 24.223 đồng/lít, giảm 1.804 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành ngày 29/10; xăng E10RON95-III không cao hơn 24.159 đồng/lít, giảm 1.575 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành vào ngày 29/10.

Tiến sĩ Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam (VINPA) cho biết, xăng là mặt hàng tác động trực tiếp nhiều nhất đến cá nhân người tiêu dùng bởi đây là nhiên liệu gắn với phương tiện đi lại. Bên cạnh việc giúp người dân giảm bớt khó khăn do giá nhiên liệu, việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt này chủ yếu nhằm đạt được chỉ tiêu CPI đặt ra.

Từ góc độ nghiên cứu thực tiễn tại các nền kinh tế, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Quang Minh cho biết, việc đưa thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0% theo Nghị quyết 45/2026/NQ-CP là một quyết định đúng lúc. Biện pháp này vừa có tác động trực tiếp lên giá, vừa phát đi một thông điệp chính sách rất rõ ràng.

Thứ nhất, tác động tức thời lên chi phí của người dân và doanh nghiệp, nhất là các hãng taxi chạy xăng, hộ kinh doanh, dịch vụ giao hàng/chở khách bằng xe máy chạy xăng… Cùng ngày 1/11, giá bán lẻ điện bình quân giảm 2%, tạo hiệu ứng cộng hưởng với giảm giá xăng. Theo dự kiến từ tháng 11 đến hết năm 2026, Chính phủ dành xấp xỉ 4.000 tỷ đồng để đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng từ 7% về 0%.

Thứ hai, đây là đòn bẩy trực tiếp nhất để giữ mục tiêu kiềm chế lạm phát. Bình quân 9 tháng năm 2026, CPI đã tăng 4,52%, tức là chạm mục tiêu 4,5% cả năm mà Quốc hội đề ra; riêng tháng 9 tăng 5,08% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính là cú sốc năng lượng từ xung đột Trung Đông bùng phát cuối tháng 2. Vì vậy, dư địa còn lại cho quý IV/2026 rất hẹp nên việc giảm giá xăng và giá điện vào thời điểm này có ý nghĩa quyết định.
 
“Quan trọng hơn con số trực tiếp là việc neo kỳ vọng lạm phát. Khi thị trường thấy Nhà nước hành động quyết liệt, doanh nghiệp ít tăng giá “phòng thủ”, vòng xoáy giá – chi phí bị chặn từ sớm. Điều này cũng giúp chính sách tiền tệ không phải thắt chặt quá mức, bảo vệ được đà tăng trưởng”, ông Vũ Quang Minh chỉ rõ.

Thứ ba, đây là minh chứng cho một phương thức điều hành mới: Linh hoạt, kịp thời và có cơ sở pháp lý rõ ràng. Ví dụ như, ngày 26/3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 482/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay trong trường hợp cần thiết vì lợi ích quốc gia. Sau đó, Quốc hội thông qua Nghị quyết 19/2026/QH16 và giao Chính phủ chủ động điều chỉnh khi cần. Khi thị trường “dịu đi”, thuế được khôi phục từ 1/7/2026; khi áp lực quay lại, thuế lại được hạ về 0. Thuế nội địa đã được sử dụng hai chiều như một “van điều tiết” trước cú sốc bên ngoài.

Nhân viên bán xăng cho khách tại cửa hàng xăng dầu Petrolimex. Ảnh: Minh Quyết-TTXVN
*Cần lường trước “giá phải trả”

Theo Chủ tịch VINPA Bùi Ngọc Bảo, xét về tương quan, mức giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng có những điểm chưa hợp lý bởi việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt này tạo ra sự chênh lệch giữa giá xăng và giá dầu diesel. Bên cạnh đó, đến tháng 3/2027 - thời điểm dự kiến khoản thuế này được đưa trở lại để bảo đảm giá xăng vận hành theo đúng cơ chế thị trường, còn có thể có thêm thuế bảo vệ môi trường và thuế nhập khẩu xăng. “Khi các khoản thuế này tăng trở lại, tổng mức tăng có thể lên tới 30%, tạo ra mức tăng giá rất lớn”, Chủ tịch VINPA Bùi Ngọc Bảo cảnh báo.

Cũng theo Chủ tịch VINPA Bùi Ngọc Bảo, từ góc độ vĩ mô, việc đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0% cũng có thể tạo ra những bất hợp lý nhất định như: Giá xăng không vận hành theo cơ chế thị trường, tạo ra mức chênh lệch so với các nước xung quanh; tác động đến nguồn thu ngân sách với số thu lên tới hàng nghìn tỷ đồng.

Trong khi đó, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Quang Minh cho rằng, cần thẳng thắn nhìn nhận “giá phải trả” khi đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%. Đó là ngân sách giảm thu; hỗ trợ đại trà thì người dùng nhiều xăng hưởng nhiều hơn nên tác dụng khuyến khích tiết kiệm nhiên liệu tạm thời yếu đi.
 
“Vì vậy, đây nên là biện pháp có thời hạn và nên đi kèm kịch bản rút ra rõ ràng cũng như hỗ trợ có mục tiêu với nhóm yếu thế. Về lâu dài, khi sửa Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, nên xem xét lại việc đánh loại thuế này lên xăng. Thuế tính theo tỷ lệ phần trăm sẽ tự động khuếch đại cú sốc khi giá thế giới tăng. Ngoài ra, chức năng điều tiết môi trường có thể giao cho thuế bảo vệ môi trường và cơ chế định giá carbon, vốn phù hợp hơn với cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050”, ông Vũ Quang Minh đề xuất.

Kho xăng dầu B12 của Petrolimex tại Quảng Ninh. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
*Tăng dự trữ quốc gia và dự trữ lưu thông

Chủ tịch VINPA Bùi Ngọc Bảo cho biết xăng dầu luôn là một trong những cân đối lớn, có ảnh hưởng đến an ninh năng lượng. Vì vậy, để bình ổn thị trường xăng dầu, giải pháp quan trọng chính là tăng cường dự trữ quốc gia, đặc biệt là dự trữ chiến lược. Bên cạnh đó, VINPA đề xuất hình thành một nguồn dự trữ xăng dầu lưu thông tập trung của Nhà nước, có thể lấy từ nguồn của Quỹ Bình ổn giá xăng dầu trước đây để tạo lập với mục tiêu đạt được mức dự trữ khoảng hơn 90 ngày.
 
“Đây là giải pháp có tác động hữu ích đối với việc bình ổn giá. Thông thường, đối với dự trữ quốc gia hoặc dự trữ lưu thông, Nhà nước có thể mua tập trung vào những thời điểm giá thấp. Khi thị trường khan hiếm, việc sử dụng nguồn dự trữ bằng chính sản phẩm sẽ hiệu quả hơn. Bởi nếu chỉ bù bằng tiền thì tại thời điểm đó cũng không có nhiều ý nghĩa, do giá xăng dầu đã ở mức cao”, Chủ tịch VINPA Bùi Ngọc Bảo nhấn mạnh.

Chia sẻ kinh nghiệm các nước trong điều hành giá xăng dầu, ông Vũ Quang Minh cho biết, cú sốc giá nhiên liệu năm 2026 là một phép thử chung hiếm có khi mọi quốc gia phải phản ứng cùng lúc. Theo đó, có 5 nhóm kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo.
 
Một là dự trữ chiến lược và phối hợp quốc tế. Ngày 11/3/2026, có 32 nước thành viên IEA nhất trí xả 400 triệu thùng dầu từ kho dự trữ, lớn nhất trong lịch sử cơ quan này. Nhật Bản xả 15 ngày dự trữ của doanh nghiệp và một tháng dự trữ nhà nước để ổn định nguồn cung. Kinh nghiệm này cho thấy công cụ mạnh nhất trước cú sốc không chỉ là giá hay thuế, mà là lượng hàng dự trữ có sẵn trong kho.

Hai là dùng thuế như van điều tiết nhưng trong một khung luật định sẵn như tại Hàn Quốc, Ấn Độ. Luật cho phép Chính phủ Hàn Quốc giảm thuế nhiên liệu tới 37% mà không cần ban hành luật mới. Năm 2026, Hàn Quốc nâng mức giảm lên 15% với xăng và 25% với dầu diesel, gia hạn nhiều lần và vẫn giữ dư địa cho trường hợp xấu hơn.

Ba là dùng quỹ bình ổn thay cho cắt giảm thuế. Thái Lan dựa vào Quỹ Nhiên liệu và chủ động từ chối giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, với lập luận phải giữ cơ sở thu cho chi tiêu công thiết yếu. Malaysia tăng ngân sách trợ giá xăng lên 2 tỷ ringgit. Bài học chính ở đây là quỹ chỉ hiệu quả khi đủ lớn, được tích lũy trong thời giá thấp và minh bạch về thu, chi.

Bốn là hỗ trợ có mục tiêu. Hy Lạp không giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với nhiên liệu mà phát phiếu hỗ trợ nhiên liệu cho đúng đối tượng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đều khuyến nghị hướng hỗ trợ này bởi hỗ trợ đại trà tốn kém, mang lại lợi nhiều hơn cho nhóm thu nhập cao và rất khó rút lại.

Năm là cẩn trọng với các biện pháp “tạm thời”. Nhật Bản vừa bãi bỏ phụ thu xăng 25,1 yên/lít từ cuối năm 2025. Khoản thuế mang tên “tạm thời” ấy đã tồn tại hơn 50 năm và khi bỏ đi thì nguồn thu thay thế vẫn chưa được xác định. Bài học là mọi biện pháp khẩn cấp cần có thời hạn, có tiêu chí kết thúc và phương án bù đắp rõ ràng ngay từ đầu.

Từ năm nhóm kinh nghiệm này, mô hình phù hợp với Việt Nam là “bộ công cụ nhiều lớp”. Lớp đầu là một khung thuế linh hoạt được luật hóa, có ngưỡng kích hoạt theo giá dầu và vận hành cả hai chiều. Tiếp theo là Quỹ bình ổn giá minh bạch, hỗ trợ có mục tiêu cho nhóm dễ tổn thương và nền tảng vững chắc nhất là hệ thống dự trữ đủ lớn.
 
“Chính phủ đã đi đúng hướng ở lớp thứ nhất; việc còn lại là chuyển thực tiễn điều hành năm 2026 thành quy định ổn định và dự báo được”, ông Vũ Quang Minh nhấn mạnh.


Tin cùng chuyên mục