BNEWS Hoàn thiện thể chế được xác định là giải pháp then chốt để tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực phát triển logistics Việt Nam theo hướng hiện đại, xanh, thông minh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc mạnh mẽ, logistics Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phát triển hiện đại, xanh, thông minh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hoàn thiện thể chế pháp luật được xác định là nhiệm vụ nền tảng để tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực và mở rộng không gian phát triển cho ngành logistics. Đây cũng là nội dung được các chuyên gia, doanh nghiệp chia sẻ tại Tọa đàm “Hoàn thiện thể chế pháp luật về logistics, gỡ điểm nghẽn, mở không gian phát triển” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 11/9 tại Hà Nội.
Chia sẻ tại toạ đàm, ông Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, việc ưu tiên hoàn thiện thể chế được xác định là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất trong Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam.
Chiến lược không chỉ hướng đến phát triển dịch vụ logistics mà bao quát toàn bộ hệ thống logistics quốc gia, từ thể chế, hạ tầng, doanh nghiệp cung ứng và sử dụng dịch vụ đến nguồn nhân lực, đào tạo và khoa học công nghệ.
Logistics có tính liên kết cao, bao trùm từ sản xuất, lưu thông, phân phối, xuất nhập khẩu đến tiêu dùng và sau tiêu dùng, đồng thời chịu sự quản lý của nhiều cơ quan chuyên ngành.
Do đó, để phát triển đồng bộ hệ thống logistics, không thể chỉ tập trung vào từng yếu tố riêng lẻ như hạ tầng, doanh nghiệp hay nguồn nhân lực. Hoàn thiện thể chế cần được ưu tiên trước hết, bởi đây là nền tảng có khả năng tác động và tạo động lực cho tất cả các yếu tố còn lại của hệ thống logistics quốc gia.
Theo bà Nguyễn Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Hạ tầng thương mại, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), logistics ngày nay không chỉ đơn thuần là vận chuyển, lưu kho mà đã trở thành mắt xích quan trọng trong lưu thông, phân phối hàng hóa, kết nối vùng sản xuất với vùng tiêu thụ, doanh nghiệp sản xuất với doanh nghiệp phân phối.Vai trò này càng rõ nét khi thương mại điện tử và bán lẻ đa kênh phát triển nhanh, kéo theo yêu cầu về giao hàng nhanh, phân tán, theo dõi hành trình, xử lý đổi trả, cũng như sự phát triển của chia chọn, giao hàng chặng cuối và logistics ngược. Đặc biệt, với nông sản, thực phẩm tươi sống và hàng hóa mùa vụ, logistics hiệu quả giúp bảo đảm chất lượng, giảm chi phí và điều tiết cung cầu giữa các vùng.Từ thực tiễn đó, bà Nguyễn Thanh Hương cho rằng: Thể chế logistics cần được đổi mới theo hướng không quản lý riêng lẻ từng khâu mà cần nhìn nhận theo dòng hàng hóa và toàn bộ chuỗi cung ứng.
Đồng thời, logistics cần được đặt trong mối liên kết với quy hoạch, giao thông, đầu tư, thương mại, chuyển đổi số và môi trường, nhất là có cách tiếp cận phù hợp với các mô hình thương mại điện tử, kho đa kênh và giao hàng chặng cuối tại đô thị.
Ông Ngô Khắc Lễ, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) cho hay, do logistics liên quan đến hầu hết các ngành, lĩnh vực nên doanh nghiệp chịu tác động của một hệ thống quy định pháp luật rất rộng.
Từ thực tiễn hoạt động, những quy định tạo thuận lợi là những quy định xuất phát từ thực tế, phù hợp với trình độ phát triển của doanh nghiệp và năng lực quản lý. Ngược lại, những quy định chưa sát thực tiễn hoặc chưa đầy đủ có thể làm phát sinh vướng mắc, chi phí và giảm hiệu quả thực thi.
Hơn nữa, quá trình hoàn thiện pháp luật cần đi đôi với việc chuẩn bị tốt các điều kiện thực hiện.Chẳng hạn, khi thủ tục xuất nhập khẩu ngày càng chuyển sang môi trường điện tử, hạ tầng và hệ thống trực tuyến phải đủ năng lực đáp ứng khối lượng giao dịch ngày càng lớn, bảo đảm hoạt động logistics không bị gián đoạn. Đây là những yêu cầu cần được tính toán ngay trong quá trình xây dựng và triển khai chính sách.
Theo ông Trần Quốc Việt, Trưởng khoa Quản lý và Đô thị, Đại học Thủ đô Hà Nội, hệ thống pháp luật liên quan đến logistics thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho sự phát triển của ngành.Tuy nhiên, logistics ngày càng phát triển theo hướng tích hợp, liên ngành, trong khi các quy định vẫn chủ yếu được xây dựng và thực thi theo từng lĩnh vực như thương mại, hải quan, thuế, bảo hiểm, vận tải, giao thông.
Vì vậy, khoảng trống lớn hiện nay không hẳn nằm ở việc thiếu văn bản hay quy định, mà ở sự thiếu đồng bộ tại điểm giao giữa các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành.Theo ông Việt, trọng tâm hoàn thiện thể chế cần chuyển từ câu hỏi “đã đủ quy định hay chưa” sang “các quy định đã đồng bộ và bao quát toàn bộ chuỗi logistics hay chưa”, qua đó tăng cường sự kết nối giữa các lĩnh vực quản lý và tạo hành lang pháp lý thống nhất cho doanh nghiệp.
Ông Bùi Bá Nghiêm cho biết: Bộ Công Thương đang rà soát, xây dựng nghị định mới thay thế Nghị định 163/2017/NĐ-CP, tập trung vào việc phân loại dịch vụ logistics, điều kiện kinh doanh, tiếp cận thị trường, giới hạn trách nhiệm và sự thống nhất với pháp luật chuyên ngành.
Các mô hình mới như logistics số, logistics xanh, logistics thương mại điện tử và logistics đô thị cũng sẽ được nghiên cứu, nhưng cần quản lý theo bản chất dịch vụ, tránh phát sinh thêm ngành nghề và điều kiện kinh doanh không cần thiết. Về lâu dài, Bộ Công Thương cũng nghiên cứu khả năng xây dựng Luật Logistics nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa các lĩnh vực pháp luật.
Từ góc độ thị trường trong nước, bà Nguyễn Thanh Hương cho rằng: Cần quy hoạch mạng lưới logistics theo dòng hàng hóa, gắn với vùng sản xuất, vùng tiêu thụ, hành lang vận tải và các đầu mối giao thông, đồng thời tăng cường kết nối đa phương thức và khuyến khích sử dụng chung kho bãi, trung tâm logistics.
Chuyển đổi số cũng cần chuyển từ các hệ thống riêng lẻ sang kết nối dữ liệu về nguồn hàng, tồn kho, đơn hàng và vận chuyển, qua đó nâng cao hiệu quả phân phối và giảm chi phí.
Còn theo ông Ngô Khắc Lễ, bên cạnh hoàn thiện quy định, cần đặc biệt chú trọng cơ chế phối hợp và tương tác giữa cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp để xử lý nhanh các vướng mắc phát sinh trong thực tế. Các cơ quan quản lý cần đánh giá tính hợp lý, khả năng thực thi của quy định từ góc nhìn doanh nghiệp, đồng thời cần có một đầu mối đủ thẩm quyền để phối hợp xử lý các vấn đề liên ngành, liên vùng.Tương tự, ông Trần Quốc Việt cũng chỉ rõ, hệ thống pháp luật về logistics cần bảo đảm bốn nguyên tắc: rõ ràng, thống nhất, khả thi và có khả năng dự báo. Pháp luật cần quy định rõ những vấn đề cốt lõi nhưng không nên quá chi tiết, để doanh nghiệp có không gian chủ động và linh hoạt.Trong 5-10 năm tới, cần chuyển từ xây dựng các quy định riêng lẻ sang xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ cho toàn bộ chuỗi logistics, đồng thời tiếp tục cắt giảm thủ tục không cần thiết và nâng cao tính ổn định, dự báo của chính sách để tạo niềm tin cho đầu tư dài hạn.
Để chính sách đi vào cuộc sống, các chuyên gia cho rằng: Cần cần rõ đầu mối, trách nhiệm và có cơ chế phối hợp đối với các vấn đề liên ngành, liên vùng. Nhà nước giữ vai trò tạo lập thể chế và điều phối; địa phương tổ chức không gian logistics; doanh nghiệp logistics cung cấp dịch vụ, trong khi doanh nghiệp sản xuất, phân phối tạo nguồn hàng và thị trường.Cùng đó, khuyến nghị các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần chủ động cập nhật pháp luật, bố trí nhân sự theo dõi chính sách và tăng cường trao đổi với hiệp hội, cơ quan quản lý. Việc thường xuyên cập nhật quy định mới sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ và chủ động xử lý các vấn đề phát sinh.Theo ông Bùi Bá Nghiêm, Bộ Công Thương đang tham mưu xây dựng Văn phòng điều phối Logistics quốc gia và Cơ sở dữ liệu Logistics quốc gia, hướng tới quản lý dữ liệu theo thời gian thực và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.Đồng thời, mong muốn hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp tăng cường phản biện chính sách, kịp thời phản ánh khó khăn, qua đó cùng cơ quan quản lý hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi Chiến lược phát triển dịch vụ logistics quốc gia.
Tin liên quan
Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường cho đặc sản vùng miền
Chỉ dẫn địa lý là tấm vé thông hành đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài; điều quan trọng là chuyển từ bảo hộ chỉ dẫn địa lý sang khai thác chỉ dẫn địa lý như một giá trị thương mại.
Tin cùng chuyên mục
-
DN cần biếtKhởi động Chương trình khuyến mại tập trung quốc gia lần 2 năm 2026
Bộ Công Thương tổ chức Chương trình khuyến mại tập trung quốc gia lần 2 năm 2026 trên phạm vi toàn quốc từ ngày 1/12/2026 đến 5/1/2027.
-
DN cần biếtCông nghệ cao mở rộng dư địa hợp tác nông nghiệp Việt Nam – Indonesia
Indonesia tăng đầu tư vào cơ giới hóa, dữ liệu và công nghệ số để nâng năng suất, giảm chi phí nông nghiệp; kinh nghiệm của Việt Nam mở thêm dư địa hợp tác.
-
DN cần biếtNghị quyết 57-NQ/TW: Hiệu quả được đo bằng sản phẩm và kết quả đầu ra
Nghị quyết số 57-NQ/TW được Bộ Công Thương thực hiện đồng bộ tạo chuyển biến tích cực, từng bước đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực phát triển của ngành.
-
DN cần biếtĐắk Lắk mở rộng xuất khẩu nông sản vào thị trường Halal
Ngày 10/9, Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội thảo “Thúc đẩy xuất khẩu nông sản, thủy sản chủ lực của tỉnh Đắk Lắk vào thị trường Halal và tuyên truyền về Hiệp định VIFTA, CEPA năm 2026”.
-
DN cần biếtXúc tiến thương mại mở thêm dư địa cho nông sản Ninh Bình
Ngày 10/9, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình tổ chức Hội nghị xúc tiến thương mại nông nghiệp tỉnh Ninh Bình năm 2026.
-
DN cần biếtKết nối cung – cầu công nghệ số, tạo động lực phát triển kinh tế
Cần Thơ đẩy mạnh kết nối doanh nghiệp công nghệ số với bên ứng dụng, mở rộng thị trường công nghệ, nâng năng suất và tạo động lực mới cho kinh tế số.
-
DN cần biếtCà Mau phê duyệt 2 dự án điện gió gần 5.000 tỷ đồng tại xã Vĩnh Hậu
Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cho biết, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt quyết định chấp nhận chủ trương đầu tư các dự án điện gió tại xã Vĩnh Hậu với tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng.
-
DN cần biếtDoanh nghiệp Ba Lan tìm nguồn hàng và đối tác tại Việt Nam
Các doanh nghiệp hàng đầu của Ba Lan tìm đối tác phân phối bánh kẹo, đồng thời tìm nguồn mỹ phẩm, thực phẩm và đồ uống từ doanh nghiệp Việt Nam.
-
DN cần biếtTrung Quốc tiếp tục dẫn đầu thế giới về các bằng sáng chế
Trung Quốc hiện sở hữu hơn 5,39 triệu bằng sáng chế trong nước và 50,82 triệu nhãn hiệu đã đăng ký trong nước còn hiệu lực, theo số liệu từ cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ hàng đầu của nước này.











