Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường cho đặc sản vùng miền

  • Uyên Hương/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Chỉ dẫn địa lý là tấm vé thông hành đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài; điều quan trọng là chuyển từ bảo hộ chỉ dẫn địa lý sang khai thác chỉ dẫn địa lý như một giá trị thương mại.

Việc xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã góp phần xác lập nguồn gốc, bảo vệ danh tiếng và nâng cao khả năng nhận diện cho nhiều sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, bảo hộ chỉ dẫn địa lý mới chỉ là bước khởi đầu; để biến lợi thế về nguồn gốc và danh tiếng thành giá trị thương mại, các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân cần tiếp tục đầu tư cho chất lượng, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường.

Đây là nội dung được các chuyên gia, cơ quan quản lý và doanh nghiệp trao đổi tại Tọa đàm “Từ bảo hộ đến khai thác chỉ dẫn địa lý: Mở rộng thị trường cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 7/9 tại Hà Nội.

Bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương. Ảnh: Bộ Công Thương

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), chỉ dẫn địa lý là công cụ quan trọng để khẳng định nguồn gốc, danh tiếng và đặc thù của sản phẩm, qua đó củng cố niềm tin của người tiêu dùng và tạo cơ sở gia tăng giá trị thương mại. Thực tế cho thấy, một số sản phẩm sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã có mức tăng giá trị đáng kể. Mật ong bạc hà Mèo Vạc tăng khoảng gấp đôi; cam Cao Phong, cam Vinh tăng hơn 50%; bưởi Phúc Trạch và nước mắm Phú Quốc tăng khoảng 30-50%.

Đến nay, Việt Nam có khoảng 130 chỉ dẫn địa lý, tập trung chủ yếu ở các nhóm sản phẩm như trái cây, thủy sản và dược liệu. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục khai thác giá trị đặc sản địa phương, nhất là những sản phẩm có nguồn gốc từ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi còn nhiều dư địa phát triển. Tuy nhiên, chỉ dẫn địa lý không phải là “đũa thần” giúp sản phẩm tự động có thương hiệu mạnh, mở rộng thị trường hay bán được với giá cao. Việc được bảo hộ mới tạo ra cơ sở pháp lý và lợi thế về nguồn gốc; giá trị thực tế chỉ được hình thành khi sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

Ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng: Chỉ dẫn địa lý là công cụ sở hữu trí tuệ giúp xác lập quyền bảo hộ, định vị danh tiếng sản phẩm và trở thành tài sản chung của cộng đồng.

Việt Nam bắt đầu phát triển chỉ dẫn địa lý từ những năm 2001, trong bối cảnh đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Nước mắm Phú Quốc và chè Shan Tuyết Mộc Châu là những sản phẩm tiêu biểu trong giai đoạn đầu. Qua quá trình phát triển, chỉ dẫn địa lý ngày càng được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ pháp lý mà còn như một thương hiệu nền, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia sâu hơn vào thị trường.

Điều quan trọng sau khi được bảo hộ là phải tổ chức sản xuất, quản lý và kiểm soát chặt chẽ để các thành viên trong cộng đồng cùng tuân thủ quy định, duy trì chất lượng và bảo vệ danh tiếng chung. Nếu không kiểm soát tốt, chỉ một cơ sở sản xuất không bảo đảm chất lượng hoặc an toàn thực phẩm cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của toàn bộ sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý.

Ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Anh: Bộ Công Thương

Theo ông Lã Đức Đoàn, Trưởng phòng Quản lý Thương mại, Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn, chỉ dẫn địa lý giúp khẳng định nguồn gốc, chất lượng, danh tiếng và nâng cao khả năng nhận diện của sản phẩm địa phương. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp, hợp tác xã chuẩn hóa sản phẩm, đầu tư bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu.

Lạng Sơn đang đẩy mạnh kết nối cung cầu, hội chợ, triển lãm, phát triển hệ thống phân phối và thương mại điện tử nhằm đưa sản phẩm có lợi thế địa phương tiếp cận rộng hơn với người tiêu dùng. Quả na của tỉnh đã được đưa lên các sàn thương mại điện tử để quảng bá, kết nối khách hàng và mở rộng thị trường cho thấy, giá trị của chỉ dẫn địa lý chỉ thực sự được phát huy khi được đặt trong mối liên kết chặt chẽ với thị trường.

Tại tọa đàm, các chuyên gia chỉ rõ một trong những hạn chế lớn hiện nay là năng lực tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường của các chủ thể, đặc biệt tại vùng miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều sản phẩm vẫn chủ yếu ở dạng tươi sống hoặc chế biến thô; quy mô sản xuất nhỏ, phương thức tổ chức chưa chuyên nghiệp, chất lượng và sản lượng chưa ổn định. Trong khi đó, việc mở rộng sản xuất thiếu kiểm soát có thể làm loãng vùng sản xuất được bảo hộ, thậm chí dẫn đến tình trạng nguồn cung vượt quá nhu cầu thị trường.

Ngoài ra, chỉ dẫn địa lý chưa được gắn kết chặt chẽ với thương hiệu của doanh nghiệp, hợp tác xã. Bao bì, nhãn mác, câu chuyện sản phẩm và các yếu tố nhận diện chưa được đầu tư tương xứng, khiến người tiêu dùng khó nhận biết và ghi nhớ giá trị khác biệt của sản phẩm. Hơn nữa, hoạt động xúc tiến thương mại cũng chưa tạo được tính liên tục. Không ít chủ thể tham gia hội chợ, triển lãm, các chương trình giao thương nhưng sau khi sự kiện kết thúc lại thiếu hoạt động duy trì kết nối với người mua. Vì vậy, cơ hội tiếp cận thị trường chưa chuyển hóa thành các đơn hàng, hợp đồng và quan hệ thương mại ổn định. Bên cạnh đó, năng lực nội tại của nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã còn hạn chế, nhất là về marketing, ngoại ngữ, nghiên cứu và phân tích thị trường, thương mại điện tử và ứng dụng công nghệ mới.

Để khắc phục những điểm nghẽn này, các chủ thể cần xác định rõ thị trường và nhóm khách hàng mục tiêu, từ đó tổ chức sản xuất phù hợp với nhu cầu thực tế. Cùng với duy trì chất lượng và sản lượng ổn định, doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư cho bao bì, nhận diện thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, xây dựng câu chuyện sản phẩm và duy trì hoạt động xúc tiến thương mại lâu dài. Việc nâng cao năng lực tiếp cận kênh phân phối hiện đại, thương mại điện tử, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo cũng được xem là yêu cầu quan trọng trong quá trình đưa sản phẩm địa phương ra thị trường.

Quang cảnh toạ đàm. Ảnh: Bộ Công Thương

Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Phan Bá Kiên, đại diện Công ty TNHH Baka cho biết: Doanh nghiệp đang khai thác chỉ dẫn địa lý “Gia Lai” theo hướng kết hợp nâng cao chất lượng sản phẩm, hỗ trợ xuất khẩu và phát triển du lịch nông nghiệp. Đối với cà phê, chỉ dẫn địa lý giúp sản phẩm gắn với những đặc trưng của vùng đất như đất đỏ cao nguyên, độ cao, khí hậu, giống cây trồng, vùng nguyên liệu, con người và văn hóa địa phương. Nhờ đó, sản phẩm không chỉ được nhìn nhận như một mặt hàng thông thường mà có thêm câu chuyện và giá trị riêng khi tiếp cận thị trường quốc tế.

Theo ông Đào Đức Huấn, để chỉ dẫn địa lý thực sự trở thành tài sản có giá trị, các địa phương cần xây dựng phương thức quản lý và khai thác phù hợp với đặc điểm từng sản phẩm, từng vùng sản xuất và từng thị trường. Điều này đặc biệt quan trọng đối với khu vực miền núi phía Bắc và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi có nhiều sản phẩm mang giá trị bản địa cao nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ và năng lực thương mại hóa hạn chế.

Cùng với việc duy trì chất lượng, các chủ thể phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng cụ thể của thị trường về giá cả, thanh toán, giao hàng, logistics và khả năng cung ứng ổn định. Vì vậy, cần có những hợp tác xã, doanh nghiệp đủ năng lực đứng ra tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng, chế biến và đưa sản phẩm đến người tiêu dùng.

Về phía Nhà nước, ông Đào Đức Huấn cho rằng: Phát triển chỉ dẫn địa lý cần được lồng ghép với chương trình OCOP và các chương trình mục tiêu quốc gia, tạo sự hỗ trợ xuyên suốt từ vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, chất lượng, bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc đến xúc tiến và tiếp cận thị trường. Trong đó, ngành nông nghiệp có vai trò tổ chức sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu; ngành khoa học và công nghệ hỗ trợ về sở hữu trí tuệ, bảo hộ và phát triển chỉ dẫn địa lý; ngành công thương tập trung vào xúc tiến thương mại, kết nối phân phối và mở rộng thị trường. Doanh nghiệp và hợp tác xã giữ vai trò trung tâm trong tổ chức sản xuất, chế biến và thương mại hóa sản phẩm.

Theo bà Hà Kiều Oanh, thời gian tới, Cục Xúc tiến thương mại sẽ tiếp tục đưa các sản phẩm có chỉ dẫn địa lý đáp ứng yêu cầu về chất lượng, sản lượng, truy xuất nguồn gốc và năng lực sản xuất vào các chương trình xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế. Các hoạt động hỗ trợ sẽ tập trung vào cung cấp thông tin thị trường, kết nối với nhà mua hàng thông qua mạng lưới Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, hiệp hội ngành hàng và hệ thống phân phối; đồng thời nâng cao năng lực xây dựng thương hiệu, thiết kế bao bì, truy xuất nguồn gốc, marketing, thương mại điện tử, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo.

Uyên Hương/Bnews/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục