BNEWSVới thế mạnh sản xuất công nghiệp, nhiệm kỳ 2025-2030 tỉnh Hưng Yên xác định một trong 5 trụ cột chủ yếu phát triển kinh tế nhanh, bền vững, toàn diện là công nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao.
Công nhân làm việc bên trong nhà máy của Công ty TNHH Keystone Electrical Việt Nam (Khu công nghiệp Liên Hà Thái). Ảnh: Keystone Electrical Việt Nam
Với thế mạnh sản xuất công nghiệp, nhiệm kỳ 2025-2030 tỉnh Hưng Yên xác định một trong 5 trụ cột chủ yếu phát triển kinh tế nhanh, bền vững, toàn diện là công nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, lao động và thân thiện môi trường. Bước vào năm 2026 – năm bản lề nhiệm kỳ mới đồng thời là năm đầu tiên triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 – 2030, trong bối cảnh kinh tế còn nhiều thách thức và cơ hội đan xen, với nền tảng đã được Hưng Yên tạo dựng cùng những quyết sách mạnh mẽ ngay từ đầu nhiệm kỳ, công nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo đà bứt phá, đóng vai trò “đầu tàu”, dẫn dắt phát triển kinh tế – xã hội địa phương. * Nền tảng vững chắc Những ngày đầu năm 2026, không khí sản xuất sôi động lan tỏa tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tại Công ty TNHH Keystone Electrical Việt Nam (Khu công nghiệp Liên Hà Thái), các dây chuyền sản xuất hoạt động liên tục để đáp ứng tiến độ giao hàng cho các đối tác quốc tế. Ông Charles Liu, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Keystone Electrical Việt Nam cho biết, doanh nghiệp chuyên nghiên cứu, phát triển và sản xuất dụng cụ điện cầm tay phục vụ xuất khẩu. Sau khi khảo sát, đánh giá nhiều địa phương, công ty đã quyết định lựa chọn Khu công nghiệp Liên Hà Thái (Hưng Yên) nhờ chính sách thu hút đầu tư thông thoáng, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là hệ thống giao thông thuận lợi, kết nối với sân bay quốc tế và cảng biển Hải Phòng. Nhà máy được khởi công vào tháng 8/2024, sau khi hoàn thành đã nhanh chóng đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Với sản lượng khoảng 3 triệu sản phẩm mỗi năm, nhà máy liên tục đổi mới, nâng cao tay nghề người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu khắt khe của các thị trường xuất khẩu lớn. Theo ông Lê Đình Đáp, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Green I-Park, chủ đầu tư Khu công nghiệp Liên Hà Thái, với định hướng xây dựng Khu công nghiệp Liên Hà Thái trở thành Khu công nghiệp kiểu mẫu, tiên phong trong Khu Kinh tế Thái Bình, sau 5 năm vận hành đến nay, tỷ lệ lấp đầy tại Khu công nghiệp này đạt khoảng 51%, thu hút hơn 50 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 1,6 tỷ USD. Các dự án đầu tư tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực mũi nhọn như điện tử, linh kiện ô tô, cơ khí chính xác, công nghiệp phụ trợ và tự động hóa – những ngành có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của địa phương. Những năm gần đây, Hưng Yên nổi lên như một điểm sáng về phát triển công nghiệp trong vùng Đồng bằng sông Hồng, trong đó nhiều nhà đầu tư lớn đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ông Nguyễn Minh Đức, Phó Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khu công nghiệp Thăng Long II cho biết, Khu công nghiệp Thăng Long II được thành lập năm 2006 với tổng diện tích 527ha. Đến nay, Khu công nghiệp đã thu hút 84/92 nhà đầu tư đến từ Nhật Bản, tổng số vốn đầu tư trên 3 tỷ USD, tạo việc làm cho trên 27.000 lao động, góp phần quan trọng vào tỷ trọng công nghiệp của địa phương, đồng thời chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Với chính sách thu hút đầu tư cùng hạ tầng đồng bộ, đến nay, tỉnh Hưng Yên đã thành lập 1 Khu Kinh tế, 23 khu công nghiệp và 81 cụm công nghiệp đã được UBND tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Theo Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên, năm 2025 các khu công nghiệp trên địa bàn đã hoàn thành xây dựng hạ tầng được 156 ha, tiếp nhận mới 141 dự án đầu tư với tổng vốn 2,39 tỷ USD; có 68 dự án đi vào hoạt động. Thu ngân sách trong các Khu công nghiệp đạt 3.600 tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 87.000 lao động, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội của tỉnh. Đánh giá về kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Phạm Quang Ngọc cho biết, năm 2025 tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt 8,78%, thuộc nhóm cao của cả nước với quy mô GRDP đạt trên 166 nghìn tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010). Trong số đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,01%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,66%; dịch vụ tăng 7,79%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 53,9%; tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 28%; tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 12,3%. Đặc biệt, năm 2025 tỉnh đã thu hút được nhiều dự án FDI quy mô lớn, công nghệ cao với 363 dự án đầu tư mới (216 dự án trong nước và 147 dự án FDI) với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 207,4 nghìn tỷ đồng và trên 2,38 tỷ USD (thuộc Top 10 cả nước). Lũy kế đến nay, Hưng Yên có hơn 4.000 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 780.000 tỷ đồng và hơn 17,2 tỷ USD. Đáng chú ý, có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã quyết định tăng vốn đầu tư tại Hưng Yên, qua đó khẳng định môi trường đầu tư hấp dẫn của tỉnh, tạo đà cho sự phát triển bứt phá trong tương lai.
Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Phạm Quang Ngọc. Ảnh: Nguyễn Công Hải - TTXVN
* Quyết sách mạnh mẽ từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ Nhất nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định mục tiêu đến năm 2030 tạo lập đồng bộ các yếu tố nền tảng cơ bản của nền công nghiệp hiện đại, đô thị văn minh và kinh tế biển mạnh; đến năm 2035 Hưng Yên là tỉnh công nghiệp hiện đại, đáp ứng tiêu chí đô thị loại I và đến năm 2045 phấn đấu là thành phố thông minh, sinh thái trực thuộc Trung ương; có nền công nghiệp hiện đại thuộc nhóm dẫn đầu cả nước; trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của phía Bắc. Hiện thực hóa mục tiêu đó, ngay sau Đại hội, tỉnh đã triển khai hàng loạt quyết sách mạnh mẽ. Trong số đó, trọng tâm là xây dựng Đề án Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với định hướng thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ, ưu tiên các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường, có sức lan tỏa lớn. Cùng với dành nguồn lực tập trung phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông có tính chất liên kết, kết nối vùng, tỉnh Hưng Yên đang nghiên cứu Đề án thành lập Khu kinh tế tự do và các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế/Khu kinh tế tự do giai đoạn 2026 – 2030. Dự kiến sẽ có 16 ngành trọng điểm với 2 mức độ ưu tiên thu hút đầu tư. Đề án được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá về thể chế, mở ra không gian phát triển mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp Hưng Yên trong khu vực và cả nước. Ngoài ra, tháng 12/2025 UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành kế hoạch đẩy mạnh thu hút đầu tư trong các lĩnh vực chuyển đổi số, công nghiệp an ninh mạng, công nghiệp bán dẫn, linh kiện điện tử, phát triển sản phẩm công nghệ số. Mục tiêu đến năm 2030, tỉnh sẽ thu hút ít nhất 10 dự án đầu tư trong các lĩnh vực này; hình thành 1 khu công nghệ cao, 1 khu công nghệ thông tin tập trung và 1 trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, đáp ứng tiêu chuẩn hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Phấn đấu mục tiêu năm 2026 tăng trưởng kinh tế 2 con số, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Quang Ngọc đề nghị, thời gian tới, các sở, ngành, địa phương cần tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện trên các lĩnh vực; trong đó, ưu tiên tìm các động lực tăng trưởng mới bên cạnh các động lực tăng trưởng truyền thống. Đồng thời chủ động rà soát, hoàn thiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực bảo đảm thống nhất với Quy hoạch tỉnh điều chỉnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đó, thu hút mạnh mẽ đầu tư ngoài ngân sách, phát triển các “cực tăng trưởng” mới; đẩy nhanh nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Khu kinh tế tự do Hưng Yên, Khu công nghệ cao và đổi mới sáng tạo và các cơ chế, chính sách đặc thù để bứt phá thu hút đầu tư, đưa Hưng Yên trở thành cực tăng trưởng mới của vùng Đồng bằng sông Hồng. Tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư, đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án đang triển khai góp phần tăng năng lực sản xuất cho ngành công nghiệp. Với vai trò trụ cột trong bức tranh kinh tế địa phương, từ nền tảng đã được tạo dựng cùng việc tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, khu, cụm công nghiệp và những cơ chế, chính sách ưu đãi, năm 2026 tỉnh Hưng Yên đặt mục tiêu đưa giá trị sản xuất ngành công nghiệp dự kiến tăng 13,1%, tăng trưởng ngành đạt trên 13,5%. Các con số trên, thể hiện khát vọng của tỉnh Hưng Yên trong tiến trình phát triển nhanh, bền vững - phấn đấu trở thành cực tăng trưởng mới của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước.
Hải Phòng cụ thể hóa Nghị quyết 28-NQ/TW bằng các mô hình cải cách, hành chính công và hỗ trợ doanh nghiệp, góp phần nâng hiệu quả quản lý và thúc đẩy GRDP 9 tháng tăng 12,08%.
GRDP quý III/2026 của TP. Hồ Chí Minh tăng 9,86%, cho thấy động lực tăng trưởng của các hoạt động kinh tế tiếp tục được củng cố. Thành phố nỗ lực vượt khó, góp phần vào tăng trưởng chung của cả nước.
GRDP thành phố Bắc Ninh 9 tháng năm 2026 tăng 11,81%, nhờ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng tốc, tạo nền tảng để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 12,5% cả năm.
Khoảng 45 dự án luật, nghị quyết dự kiến được Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, hướng tới tháo gỡ điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
Doanh nghiệp kiến nghị hoàn thiện ưu đãi, hành lang thử nghiệm và cơ chế hỗ trợ theo từng giai đoạn để thúc đẩy nghiên cứu, phát triển công nghệ và đưa kết quả vào thực tiễn.
Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Panama José Raúl Mulino mở ra cơ hội tăng cường thương mại, đầu tư, logistics, hàng hải và kết nối doanh nghiệp giữa hai nước.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu tăng tốc thi công sân bay Long Thành, kiểm soát tiến độ từng ngày và bảo đảm đầy đủ điều kiện an toàn để khai thác từ tháng 12/2026.
Với việc vận hành theo cơ chế hạ tầng dùng chung và trao đổi sản phẩm, việc hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng quốc gia quy mô lớn mô sẽ tạo nên chuỗi giá trị cộng sinh.
Chuyến công tác của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tại Vương quốc Anh mở ra các hướng hợp tác về đào tạo cán bộ, nghiên cứu lý luận, trao đổi học giả và xuất bản.