BNEWSGiải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước làm rõ giải pháp phát triển thị trường vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn.
[Sáng 31/10, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn đã làm rõ các giải pháp huy động nguồn lực cho tăng trưởng, phát triển thị trường vốn và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp. * Phát triển thị trường vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, 9 tháng năm 2026, tăng trưởng kinh tế đạt 9,01%, trong khi lạm phát ở mức 4,52%. Đây là kết quả trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, xung đột địa chính trị tác động đến giá năng lượng và chuỗi cung ứng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN
“Chúng ta không chỉ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ để bảo đảm ổn định tỷ giá, lãi suất mà còn triển khai nhiều chính sách tài khóa như miễn, giảm thuế. Trong năm nay, số tiền miễn, giảm thuế khoảng 240.000 tỷ đồng và gia hạn khoảng 120.000 tỷ đồng, tổng cộng khoảng 360.000 tỷ đồng”, Bộ trưởng thông tin. Bộ trưởng nhấn mạnh, định hướng điều hành là thúc đẩy tăng trưởng nhưng phải bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả, đồng thời kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%. Thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tính toán phương án giá điện và báo cáo Chính phủ về việc tiếp tục lùi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, qua đó đưa toàn bộ các sắc thuế đối với xăng dầu về 0%. Đề cập việc huy động nguồn lực cho tăng trưởng, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, theo kế hoạch tài chính 5 năm 2026-2030, để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%, Việt Nam cần huy động khoảng 40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời đưa hệ số ICOR về mức 4,5-4,8. “Như vậy, mức độ huy động nguồn lực cho tăng trưởng trong giai đoạn này tăng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025”, Bộ trưởng nêu rõ. Trước ý kiến đại biểu về sự phụ thuộc lớn của doanh nghiệp vào thị trường tín dụng, Bộ trưởng cho biết, Chính phủ đã nhận diện vấn đề và triển khai chiến lược phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu. Trong 9 tháng, huy động vốn trên thị trường tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, phát hành trái phiếu ra công chúng và cổ phiếu ra công chúng tăng 60%; phát hành cổ phiếu riêng lẻ tăng 80%. Từ cuối năm 2025 đến nay, có 10 doanh nghiệp thực hiện IPO, huy động trên 60.000 tỷ đồng, gấp 9 lần tổng mức huy động của cả giai đoạn 2021-2025. Theo chiến lược phát triển thị trường, đến năm 2030, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu phấn đấu đạt 120% GDP, so với mức hiện nay khoảng 90% GDP; quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 50% GDP và thị trường sản phẩm phái sinh đạt khoảng 20-30% GDP. Để thực hiện các mục tiêu này, Bộ trưởng cho biết cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm công khai, minh bạch để thu hút nhà đầu tư; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tránh tình trạng cô đặc sở hữu; phát triển các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, tạo thêm kênh dẫn vốn cho nền kinh tế. Giải trình về những vấn đề liên quan đến ngân sách nhà nước, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, năm 2025, thu ngân sách thực hiện tăng 36% so với dự toán và tăng 34% so với năm 2024. Một trong những nguyên nhân là tăng trưởng kinh tế đạt 8,02%, cao hơn đáng kể so với mức dự báo đầu năm; thu từ đất đạt trên 700.000 tỷ đồng, tăng khoảng 98%, cùng một số khoản thu phát sinh từ chênh lệch thu chi ngân hàng, bán vốn nhà nước và cổ tức. Bộ trưởng thừa nhận công tác phân tích, dự báo phục vụ xây dựng dự toán ngân sách vẫn còn hạn chế, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dự báo, bảo đảm dự toán sát hơn với kết quả thực hiện. Đối với giải ngân đầu tư công, 9 tháng năm 2026 đạt 62,9% kế hoạch, tăng 203.000 tỷ đồng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn tạm ứng còn khoảng 37%. Bộ trưởng nhìn nhận có thực tiễn là chuẩn bị dự án còn bất cập, đặc biệt là dự án ODA do quy trình phức tạp hơn. Vì thế, để đẩy nhanh công trình đi vào khai thác, tăng hiệu quả, giảm chuyển nguồn, giảm tạm ứng thì việc chuyển bị dự án, thực thi là quan trọng nhất. * Minh bạch tài chính, mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp Cũng phát biểu giải trình trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết, tiền gửi ngắn hạn hiện chiếm khoảng 80% tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng. Nếu chỉ xét theo kỳ hạn, đây là nguồn vốn ngắn hạn. Song theo Thống đốc, trên thực tế, người dân thường duy trì tiền gửi trong thời gian dài thông qua việc tiếp tục gửi và quay vòng khi đến hạn. Vì vậy, mặc dù được phân loại là tiền gửi ngắn hạn, nguồn vốn này vẫn có tính ổn định nhất định trong quá trình hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN
Thống đốc cũng cho rằng, việc người dân tiếp tục lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng phản ánh niềm tin đối với hệ thống tổ chức tín dụng. Khi thị trường vốn phát triển hấp dẫn và bảo đảm an toàn hơn, cơ cấu phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế sẽ có sự thay đổi. Về định hướng điều hành, Thống đốc Phạm Đức Ấn khẳng định Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo đuổi mục tiêu bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kiểm soát tỷ giá và đóng góp vào hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Theo Thống đốc, điểm cân bằng giữa các mục tiêu điều hành không thể xác định bằng một công thức cố định mà phải được thực hiện thông qua quá trình điều hành thực tế. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục phối hợp với các tổ chức tín dụng để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, trong đó vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tỷ giá, vừa hỗ trợ tăng trưởng. Thống đốc cho biết, Ngân hàng Nhà nước đang sử dụng các công cụ như tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và giao dịch hoán đổi (swap) để hỗ trợ các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng một gói tái cấp vốn phục vụ cho vay nhà ở xã hội. Thống đốc cho biết nội dung này đang được triển khai. Theo Thống đốc Phạm Đức Ấn tăng trưởng tín dụng thời gian qua ở mức khoảng 12,27%. Lãi suất huy động tăng 1,42%, trong khi lãi suất cho vay chỉ tăng 0,99% cho thấy khoảng cách giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay đang thu hẹp. Đối với tín dụng bất động sản, mức tăng hiện khoảng 9,84%, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng chung. Cùng với việc kiểm soát tín dụng theo lĩnh vực, Thống đốc Phạm Đức Ấn thông tin về cơ cấu vốn tín dụng phục vụ nền kinh tế. Trong tổng dư nợ hơn 20,79 triệu tỷ đồng, có 77,44% dành cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Riêng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, dư nợ tín dụng đạt hơn 4 triệu tỷ đồng. Liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, Thống đốc cho biết Ngân hàng Nhà nước đã làm việc, tổ chức hội nghị với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa để trao đổi các giải pháp giảm lãi suất, nâng cao khả năng tiếp cận vốn. Trong đó, những phương thức cho vay dựa nhiều hơn vào năng lực thực tế của doanh nghiệp, đặc biệt là dòng tiền, cũng được quan tâm như các đại biểu Quốc hội đã đề cập. Tuy nhiên, Thống đốc lưu ý việc tiếp cận tín dụng còn phụ thuộc vào điều kiện và năng lực của chính doanh nghiệp. Thống đốc cho biết những hạn chế được chỉ ra gồm quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động và thông tin tài chính chưa thực sự minh bạch. Thống đốc Phạm Đức Ấn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp. Theo Thống đốc, không thể tồn tại tình trạng doanh nghiệp sử dụng một bảng cân đối để thực hiện nghĩa vụ thuế nhưng lại sử dụng bảng cân đối khác khi vay vốn ngân hàng. Khi thông tin tài chính và hoạt động sản xuất, kinh doanh được minh bạch đầy đủ, các tổ chức tín dụng sẽ có điều kiện đánh giá cụ thể hơn về tình hình tài chính, năng lực hoạt động và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Thống đốc cũng đề cập thực tế doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 98% số doanh nghiệp. Theo Thống đốc, các tổ chức tín dụng về cơ bản vẫn thực hiện cấp tín dụng đối với khu vực này. Vấn đề đặt ra là bản thân doanh nghiệp cần nâng cao năng lực hoạt động, chứng minh được khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở xem xét và tiếp tục cho vay. Thống đốc khẳng định Ngân hàng Nhà nước sẽ khuyến khích các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay trên cơ sở đánh giá năng lực thực tế của doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng yên tâm khi triển khai. Nội dung này gắn với những ý kiến của đại biểu Quốc hội về mở rộng khả năng tiếp cận vốn, trong đó có việc cho vay dựa trên dòng tiền và hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng. Đối với những kiến nghị về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và kéo dài thời hạn trả nợ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn, Thống đốc cho biết các nội dung này đã được quy định cụ thể trong pháp luật và Thông tư 39, thuộc thẩm quyền của tổ chức tín dụng. Trên cơ sở những quy định hiện hành, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn./.
Giải trình trước Quốc hội sáng 31/10, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh quyết tâm đạt tăng trưởng 10% năm 2026, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và kiểm soát lạm phát.
Bộ Công Thương vừa ban hành Quyết định số 2841/QĐ-BCT về Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành công thương giai đoạn 2026 - 2030.
Sáng 31/10, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027.
Sau 40 năm đổi mới, TP. Hồ Chí Minh hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo, nâng cao vai trò đầu tàu và sức lan tỏa đối với kinh tế cả nước.
Theo dõi phiên thảo luận của Quốc hội ngày 31/10, cử tri Tây Ninh kiến nghị siết chặt quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn thực phẩm và quyền lợi người dân.
Giải trình trước Quốc hội sáng 31/10, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án, đẩy nhanh giải ngân và sớm đưa công trình vào khai thác.