Không quyết tâm cao, nỗ lực lớn, sẽ không có đột phá

  • Quốc Huy/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Chính khoảng cách giữa kết quả thực tế và mục tiêu điều hành đã trở thành cái cớ để xuất hiện không ít quan điểm bi quan, phủ nhận những thành quả đạt được, thậm chí còn quy kết duy ý trí.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026. Ảnh: Dương GIang/TTXVN

Dù kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm đạt mức cao nhất trong nhiều năm, mục tiêu tăng trưởng hai con số vẫn đặt ra sức ép rất lớn đối với nền kinh tế trong những tháng cuối năm. Chính khoảng cách giữa kết quả thực tế và mục tiêu điều hành đã trở thành cái cớ để xuất hiện không ít quan điểm bi quan, phủ nhận những thành quả đạt được, thậm chí còn quy kết duy ý trí. Song nếu nhìn toàn diện vào những động lực tăng trưởng đang được khơi thông, có thể thấy mục tiêu này không phải là một sự duy ý chí, mà được đặt ra trên những cơ sở thực tiễn rõ ràng.

​Số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 đã chính thức được công bố. Mặc dù con số tăng trưởng 8,18% là tích cực, cao nhất trong nhiều năm qua, nhưng vẫn thấp hơn 1,52% so với mục tiêu (9,7%). Điều này tạo áp lực lớn lên những tháng cuối năm khi muốn đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số cho cả năm.

Dựa vào điểm này, các nhà “phản biện mạng xã hội” liên tục rêu rao: GDP 6 tháng mới đạt 8,18% nên "không có cơ hội" đạt mục tiêu cả năm; mục tiêu tăng trưởng chỉ nhằm "tuyên truyền" hoặc "đánh bóng thành tích"… Từ việc nhấn mạnh khoảng cách giữa kết quả 6 tháng và mục tiêu cả năm, một số ý kiến đã đi đến kết luận rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số là không khả thi, thậm chí cho rằng việc đặt ra mục tiêu chỉ mang tính hình thức.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự phiên họp Chính phủ thường ký tháng 6/2026. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

 

Thực tế, cách nhìn nhận trên đã bỏ qua bản chất của mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Đảng và Chính phủ đặt ra. Tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một định hướng mang tính thời đại: Mục tiêu tăng trưởng cao không chỉ để hoàn thành chỉ tiêu năm, mà là yêu cầu chiến lược nhằm tạo nền tảng cho khát vọng 2030–2045. Để trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ, Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao liên tục và nâng cao chất lượng nền kinh tế. Chính vì vậy, con số tăng trưởng hai con số cho năm 2026 cần được nhìn nhận như một mệnh lệnh phát triển từ thực tiễn, thay vì một con số thống kê đơn thuần.

Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy nhiều mục tiêu từng được đánh giá là rất tham vọng nhưng đã trở thành hiện thực nhờ quyết tâm cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế. Và nếu chúng ta cứ e dè với các mục tiêu thì Việt Nam đã không thể có những bước nhảy vọt thần kỳ để thoát nghèo, không thể trở thành một nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Hay gần đây nhất Nhóm Ngân hàng Thế giới đã chính thức nâng hạng Việt Nam lên nhóm thu nhập trung bình cao nhờ những bứt phá ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu. 

Tăng trưởng kinh tế không tự nhiên đến từ một biểu đồ bằng phẳng. Nó là kết quả của việc đối mặt với cái khó, tìm giải pháp đột phá để vượt qua cái khó. Các lập luận trên chủ yếu dựa vào một lát cắt của bức tranh kinh tế, trong khi bỏ qua những chuyển biến tích cực của các động lực tăng trưởng cũng như các chính sách đang được triển khai trong nửa cuối năm.

Bên cạnh các luận điệu trên, một số quan điểm chống phá khác lại cho rằng, kinh tế Việt Nam đã hết động lực tăng trưởng. Họ quy kết tăng trưởng chỉ dựa vào đầu tư công, muốn đạt tăng trưởng hai con số chỉ còn cách bơm đầu tư công. Điều này sẽ gây lạm phát, đồng tiền sẽ mất giá và nợ công sẽ tăng mạnh…

Tuy nhiên thực tế lại hoàn toàn khác. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng dựa trên các động lực thực tế, vững chắc chứ không phải những phép tính lý thuyết suông. Hãy nhìn vào cấu trúc nội tại của nền kinh tế hiện tại để thấy các cỗ máy tăng trưởng đang vận hành ra sao.

Kinh tế Việt Nam tăng trưởng đáng khích lệ trong 6 tháng đầu năm 2026. Ảnh minh họa: TTXVN

 

Đầu tư công tiếp tục là mũi nhọn hàng đầu và đóng vai trò là vốn mồi quan trọng của nền kinh tế. Những đại công trường cao tốc Bắc - Nam, sân bay quốc tế Long Thành, hay các hạ tầng logistics trọng điểm không chỉ tiêu thụ hàng triệu tấn nguyên vật liệu, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, mà quan trọng hơn, chúng đang mở ra những không gian phát triển mới. Hạ tầng đi trước một bước, chi phí logistics giảm xuống, sức cạnh tranh của nền kinh tế tự khắc tăng lên. Việc giải ngân vốn đầu tư công 6 tháng qua dù chưa đạt 100% kỳ vọng nhưng đã có sự bứt phá mạnh mẽ so với cùng kỳ, dòng vốn nhà nước đang thực sự làm tốt vai trò "vốn mồi", kích hoạt các nguồn vốn khác từ khu vực tư nhân cùng chảy vào dòng tăng trưởng.

Không chỉ từ đầu tư công, khu vực FDI cũng đang thể hiện dấu ấn rõ nét. Trong 6 tháng đầu năm, vốn FDI giải ngân tăng khoảng 11,2%, còn vốn đăng ký tăng tới 62%. Nhiều quỹ đầu tư quốc tế đã bắt đầu tìm kiếm cơ hội tại Việt Nam cũng là một tín hiệu rất tích cực đối với nền kinh tế. Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng đưa các doanh nghiệp công nghệ toàn cầu đến Việt Nam không còn dừng lại ở lắp ráp, gia công thô. Xu hướng hiện nay là đầu tư sâu vào nghiên cứu và phát triển (R&D), sản xuất linh kiện bán dẫn, vi mạch và năng lượng sạch. Mức tăng mạnh của vốn FDI đăng ký và giải ngân cho thấy các nhà đầu tư quốc tế vẫn tiếp tục đánh giá tích cực môi trường đầu tư của Việt Nam, bất chấp nhiều biến động của kinh tế thế giới.

Ở khía cạnh khác, cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng qua đã dịch chuyển mạnh khi nhập khẩu tăng nhưng chủ yếu tập trung vào tư liệu sản xuất như trang thiết bị, máy móc là tín hiệu tích cực. Điều này phản ánh năng lực nội sinh và niềm tin của doanh nghiệp vào triển vọng sản xuất, mở rộng quy mô, và đáp ứng các đơn hàng quốc tế trong tương lai.Hàng hóa Việt Nam không chỉ giữ vững các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Trung Quốc mà còn thâm nhập sâu vào các thị trường mới nổi.

Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng qua đã dịch chuyển mạnh. Ảnh: TTXVN phát

Ngoài ra, một động lực mới đang định hình rõ nét là nền kinh tế số và xu hướng chuyển đổi xanh. Chuyển đổi số không còn là câu chuyện xa xôi trên bàn giấy mà đã trở thành công cụ tối ưu hóa năng suất, giảm chi phí phi chính thức cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp.

Quan trọng hơn cả, động lực tăng trưởng còn được thông qua cải cách thể chế, đổi mới mô hình phát triển và khơi thông mọi nguồn lực. Tư duy đó được thể hiện xuyên suốt trong các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị thời gian qua. Cụ thể như các nghị quyết: Nghị quyết số 66-NQ/TW tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định để giải phóng nguồn lực phát triển. Trên nền tảng đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, mở rộng không gian cho doanh nghiệp đầu tư và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo dư địa tăng trưởng mới bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hướng tới nâng cao năng suất và sức cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 10-NQ/TW tiếp tục nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, thu hút FDI chất lượng cao và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước. Những nghị quyết này đã mở đường cho việc đổi mới tư duy đưa ra các giải pháp phát triển trong giai đoạn mới. Những quyết sách đó tạo thành một chỉnh thể thống nhất, vừa giải quyết các điểm nghẽn trước mắt, vừa tạo nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng cao trong những năm tới.

Động lực tăng trưởng cũng đến từ sự nỗ lực đoàn kết đồng lòng của cả hệ thống chính trị. Chúng ta không đánh đổi ổn định vĩ mô lấy tăng trưởng ngắn hạn, nhưng cũng không vì thận trọng mà bỏ lỡ cơ hội phát triển. Việc phân công giao chỉ tiêu cụ thể, rà soát từng dự án trọng điểm theo mốc thời gian đã tạo nên một bộ máy vận hành linh hoạt, phản ứng nhanh trước các biến động của thị trường. Chính sự quyết liệt này là bảo chứng cho khả năng hấp thụ các nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối năm.

Có thể sẽ còn nhiều tranh luận về khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026. Nhưng điều không thể phủ nhận là mục tiêu ấy không được đặt ra từ ý chí chủ quan, càng không phải để chạy theo thành tích, mà xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, muốn hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục, đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Vì vậy, điều cần thiết hôm nay không phải là nuôi dưỡng tâm lý hoài nghi trước những mục tiêu lớn, mà là củng cố niềm tin, khơi dậy khát vọng phát triển và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị để biến khát vọng ấy thành hiện thực. Chính thực tiễn phát triển sẽ là câu trả lời thuyết phục nhất đối với mọi nhận định phiến diện hay những luận điệu xuyên tạc./.

Tác giả bài viết:

 

 

Quốc Huy/Bnews/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục