BNEWS Khép lại một tuần giao dịch, giá cà phê trong nước lao dốc mạnh và hiện còn khoảng 89.700 – 90.500 đồng/kg, giảm từ 6.000 – 6.600 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Cụ thể, tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê đạt 90.500 đồng/kg; Lâm Đồng ở mức 89.700 đồng/kg.
Về xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt 394.300 tấn, với kim ngạch 1,89 tỷ USD, tăng 22,9% về khối lượng và 6,3% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá cà phê xuất khẩu bình quân trong 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.791 USD/tấn, giảm 13,5% so với cùng kỳ năm 2025. Đức, Tây Ban Nha và Italia tiếp tục là ba thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, với thị phần lần lượt 16,2%, 7,5% và 7,4%. So với cùng kỳ năm trước, trong tháng 1/2026, giá trị xuất khẩu cà phê sang Đức tăng 44,4%, Tây Ban Nha tăng 50,7%, và Italia tăng 17,4%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng giá trị cao nhất, gấp 3,8 lần, trong khi Hà Lan có mức tăng thấp nhất, khoảng 2,5%. Về thị trường cà phê thế giới, kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá cà phê thế giới đồng loạt giảm mạnh. Trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 5/2026 giảm 170 USD xuống còn 3.455 USD/tấn. Trên sàn New York, giá cà phê Arabica cùng kỳ hạn cũng giảm 150 USD xuống còn 6.290 USD/tấn. Tính chung cả tuần, giá cà phê Robusta trên sàn London đã mất hơn 8%. Theo các chuyên gia, xu hướng giảm giá đến từ dự báo Brazil sẽ có một vụ mùa bội thu và lượng xuất khẩu cà phê cao của Việt Nam. Theo Trung tâm Thông tin và dịch vụ nông nghiệp và môi trường (Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường), thị trường cà phê thế giới bước vào năm 2026 với dấu hiệu chuyển dịch quan trọng trong cán cân cung – cầu. Sau nhiều năm liên tiếp đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung và mức tồn kho thấp, các dự báo mới cho thấy thị trường có thể chuyển sang trạng thái dư cung trong niên vụ 2026/2027, chủ yếu nhờ sự gia tăng sản lượng tại Brazil – quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới. Phân tích của Rabobank cho thấy, sản lượng cà phê toàn cầu có thể đạt khoảng 180 triệu bao, tăng khoảng 8 triệu bao so với năm trước, trong đó phần lớn mức tăng đến từ sản lượng Arabica của Brazil. Một số dự báo khác như của StoneX và Sucden Financial cũng cho rằng, sản lượng cà phê Brazil có thể đạt từ 72,5–77 triệu bao trong niên vụ 2026/2027. Nếu các dự báo này trở thành hiện thực, thị trường cà phê toàn cầu có thể ghi nhận mức dư cung khoảng 4,7–5,3 triệu bao, đánh dấu năm dư cung đầu tiên sau giai đoạn thiếu hụt kéo dài từ năm 2021 đến năm 2024. Về thị trường lúa gạo, giá lúa gạo trong nước tuần qua có sự giảm nhẹ. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi tại ruộng loại lúa thơm cao nhất là 5.700 đồng/kg, trung bình là 5.607 đồng/kg, giảm 96 đồng/kg; lúa thường cũng giảm trung bình 32 đồng/kg, giá cao nhất là 5.450 đồng/kg, trung bình là 5.389 đồng/kg. Gạo nguyên liệu lứt loại 1 cao nhất là 9.150 đồng/kg, trung bình là 8.563 đồng/kg, tăng 104 đồng/kg. Tuy nhiên, lứt loại 2 lại giảm 74 đồng/kg, có giá trung bình là 8.061 đòng/kg, cao nhất là 8.550 đồng/kg. Gạo xát trắng loại 1 giảm 70 đồng/kg, cao nhất là 9.650 đồng/kg, trung bình là 9.345 đồng/kg; xát trắng loại 2 giảm 115 đồng/kg, trung bình là 8.725 đồng/kg. Đối với phụ phẩm, giá cám giảm 43 đồng/kg, trung bình 7.871 đồng/kg; trong khi tấm tăng 29 đồng/kg, trung bình là 7.636 đồng/kg. Tại An Giang, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.000 – 6.100 đồng/kg, giảm 100 đồng/kg; OM 4218 khoảng 6.000 – 6.200 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg; IR 50404 vẫn ở mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 5451 từ 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 34 từ 5.200 – 5.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 vẫn ở mức 9.150 – 9.350 đồng/kg. Các loại gạo nguyên liệu xuất khẩu khác dao động: CL 555 từ 7.800 – 7.900 đồng/kg, giảm 150 đồng/kg; IR 504 từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 từ 8.900 – 9.100 đồng/kg; OM 380 từ 7.500 – 7.600 đồng/kg; OM 5451 từ 8.450 – 8.550 đồng/kg; Sóc Thơm từ 7.500 – 7.600 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg. Phụ phẩm dao động 7.550 – 11.500 đồng/kg; trong đó tấm IR 504 dao động ở mức 7.550 – 7.750 đồng/kg, cám 10.500 – 11.500 đồng/kg. Tại các chợ lẻ, gạo Nàng Nhen có giá cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; thơm Thái hạt dài 20.000 – 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; Jasmine 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; Sóc thường 16.000 – 17.000 đồng/kg; gạo thường 12.000 – 13.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg. Về xuất khẩu, giá gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức từ 355-360 USD/tấn, giảm nhẹ so với mức từ 360-365 USD/tấn của tuần trước. Một nhà giao dịch tại TP. Hồ Chí Minh cho biết, giá giảm do nguồn cung trong nước đang tăng lên nhờ vụ thu hoạch Đông Xuân đang diễn ra, trong khi nhu cầu bên ngoài vẫn yếu. Không chỉ Việt Nam, nhìn chung, thị trường gạo châu Á tuần qua chịu áp lực giảm giá ở hầu hết các nước xuất khẩu lớn. Tại Ấn Độ, giá gạo đồ 5% tấm ổn định ở mức từ 348-353 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm được chào bán ở mức giá từ 344-350 USD/tấn. Mặc dù nguồn cung dồi dào, các nhà xuất khẩu cho biết việc chốt các đơn hàng mới đang chậm lại. Theo 5 nhà xuất khẩu lớn, hoạt động xuất khẩu gạo của Ấn Độ - vốn chiếm hơn 40% thương mại gạo toàn cầu - đang bị ảnh hưởng do căng thẳng tại Trung Đông vẫn chưa có dấu hiệu xuống thang. Tình hình xung đột đã đẩy chi phí vận tải và bảo hiểm hàng hải tăng vọt, đặc biệt là các tuyến đi qua eo biển Hormuz. Giá gạo tấm 5% của Thái Lan tuần qua cũng đã giảm từ mức 380 USD/tấn tuần trước xuống còn 370 USD/tấn sau khi đồng baht yếu đi. Các nhà giao dịch cho biết dù trong bối cảnh xung đột, nhu cầu tích trữ lương thực không cao do gạo Ấn Độ có giá rẻ và nguồn cung dồi dào hơn. Khách hàng chủ yếu của Thái Lan hiện là các khách hàng truyền thống. Trong khi thị trường gạo châu Á chịu áp lực giảm giá do nhu cầu yếu và nguồn cung dồi dào, thì tại Mỹ, giá lúa mì lại tăng phiên thứ ba liên tiếp do lo ngại về thời tiết khô hạn. Chốt phiên giao dịch ngày 13/3, giá lúa mì giao tháng 5/2026 tăng 15,25 xu lên 6,1375 USD/bushel. Trong khi đó, giá ngô cùng kỳ hạn tăng 4,75 xu lên 4,6725 USD/bushel. Ngược lại, giá đậu tương giảm 2 xu còn 12,2525 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg). Giới quan sát nhận định giá lúa mì tăng mạnh do lo ngại về điều kiện khô hạn tại vành đai lúa mì của Mỹ đang đe dọa sự phát triển của cây trồng vụ Đông, bên cạnh các hoạt động mua vào mang tính kỹ thuật như biện pháp phòng ngừa rủi ro. Giá ngô tương lai ghi nhận đà tăng khi diện tích gieo trồng tại Mỹ nhiều khả năng sẽ giảm trong vụ xuân này. Khi chi phí đầu vào như phân bón tăng cao, nông dân có thể ưu tiên các loại cây trồng như đậu tương, qua đó làm giảm nguồn cung ngô tiềm năng. Đồng thời, thị trường cũng được củng cố bởi giá dầu thô đang giao dịch gần mức cao nhất bốn năm. Do ngô là nguyên liệu chính để sản xuất nhiên liệu sinh học ethanol, nên giá dầu thô cao hơn sẽ làm tăng nhu cầu đối với loại nhiên liệu này và tạo tác động tích cực đến giá ngô. Trong khi đó, đậu tương chịu áp lực điều chỉnh sau khi đã giao dịch ở mức cao nhất gần hai năm. Yếu tố chính ảnh hưởng tới nông sản này là khả năng diện tích gieo trồng gia tăng khi người nông dân có thể chuyển từ ngô sang đậu tương để giảm chi phí. Ngoài ra, tâm lý thận trọng cũng bao trùm thị trường trước thềm các cuộc đàm phán thương mại sắp tới giữa Mỹ và Trung Quốc.Tin liên quan
Siêu thị chủ động bình ổn giá, giảm tác động khi giá xăng dầu biến động
Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng, việc các hệ thống bán lẻ lớn chủ động giữ giá và tăng cường khuyến mãi là yếu tố quan trọng giúp ổn định thị trường.
Tin cùng chuyên mục
-
Hàng hoáNhiều nước OPEC+ nhất trí giữ nguyên sản lượng dầu trong tháng 11
Ngày 4/10, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và các nước đối tác (OPEC+) thông báo 7 quốc gia thành viên đã quyết định duy trì mức sản lượng dầu tối đa hiện tại trong tháng 11.
-
Hàng hoáCampuchia xuất khẩu hơn 200.000 tấn gạo sang Philippines
Theo Liên đoàn Lúa gạo Campuchia (CRF), nước này đã xuất khẩu 122.102 tấn gạo sang Philippines trong tám tháng đầu năm 2026, và tổng sản lượng xuất khẩu cả năm dự kiến đạt khoảng 209.000 tấn.
-
Hàng hoáXuất khẩu gạo đạt trên 3,1 tỷ USD, thị trường phân hóa
Xuất khẩu gạo Việt Nam 9 tháng giảm 10,9% về giá trị, trong bối cảnh nhu cầu quốc tế yếu và giá xuất khẩu giảm, song vẫn ghi nhận những điểm sáng khi xuất khẩu sang Trung Quốc và Iraq tăng mạnh.
-
Hàng hoáThái Lan dự báo giá dầu thô sẽ trong khoảng 95-105 USD/thùng
Tập đoàn Năng lượng Quốc gia Thái Lan (PTT) dự báo giá dầu thô Dubai có thể dao động 95-105 USD/thùng trong tháng 10 và 11/2026.
-
Hàng hoáGiá dầu thế giới quay đầu giảm sau quyết định mở kho dự trữ khẩn cấp của G7
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI của Mỹ dẫn đầu đà giảm khi mất 1,76 USD (tương đương 1,9%), lùi sâu về mốc 91,11 USD/thùng.
-
Hàng hoáGiữ vị truyền thống, nâng tầm sản phẩm thương hiệu Lý Sơn
Để nâng cao giá trị thương hiệu chả cá Lý Sơn, yếu tố cốt lõi đầu tiên được các cơ sở chú trọng chính là chất lượng sản phẩm bắt nguồn từ nguyên liệu khắt khe và công thức gia truyền.
-
Hàng hoáGiá dầu hạ nhiệt về cuối tuần dù nguồn cung vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro
Giá dầu thế giới giảm trong phiên giao dịch cuối tuần (2/10), khi các nước châu Âu nhất trí giải phóng thêm dầu diesel dự trữ nhằm hạ nhiệt giá nhiên liệu và giảm nhu cầu nhập khẩu từ Mỹ.
-
Hàng hoáG7 nhất trí xả 100 triệu thùng dầu diesel và dầu thô từ kho dự trữ
Ngày 2/10, Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G7) đã nhất trí xả 100 triệu thùng dầu diesel và dầu thô từ kho dự trữ trong vòng 4 tháng tới.
-
Hàng hoáGiá dầu thô giảm nhẹ khi tín hiệu phục hồi nguồn cung lấn át rủi ro địa chính trị
Giá dầu thô thế giới giảm nhẹ trong phiên 2/10, khi thị trường chuyển sự chú ý sang các dấu hiệu phục hồi nguồn cung từ khu vực Trung Đông.











