Phó Chủ tịch JETRO đánh giá cao chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam

10:18' - 27/04/2020
Bnews Về xuất khẩu, năm 1986, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chưa bằng 1/10 của Malaysia hay Thái Lan. Tuy nhiên, vào năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên hơn 240 tỷ USD.

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thống nhất đất nước (30/4/1945-30/4/2020), phóng viên TTXVN tại Tokyo đã có cuộc phỏng vấn ông Hironobu Kitagawa, Phó Chủ tịch Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO).

Ông Kitagawa cho biết các doanh nghiệp nước ngoài đánh giá cao các nỗ lực của Việt Nam nhằm cải thiện chính sách thương mại quốc tế bằng cách theo sát các xu hướng trên thế giới.

Đáng chú ý, các nỗ lực này bao gồm việc đưa vào thực thi Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Ông Kitagawa là một chuyên gia về Việt Nam và từng giữ chức Trưởng Đại diện Văn phòng JETRO tại Việt Nam. Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

Phóng viên: Ông đánh giá như thế nào về các thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam 45 năm sau giải phóng, nhất là trong quá trình Đổi mới?

Ông Hironobu Kitagawa: Kể từ khi Việt Nam bắt đầu chính sách Đổi mới vào năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ.

Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng gần 50 lần, từ 5 tỷ USD vào năm 1986 lên 245 tỷ USD vào năm 2018. Đó là tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Với tốc độ tăng trưởng GDP gấp xấp xỉ 2,5 lần của Nhật Bản trong cùng giai đoạn, chúng ta có thể thấy nền kinh tế Việt Nam đã phát triển nhanh như thế nào.

Một nguyên nhân dẫn tới sự tăng trưởng của Việt Nam là thành công trong việc thu hút các doanh nghiệp nước ngoài tới nước này và mở rộng hoạt động xuất khẩu.

Về xuất khẩu, năm 1986, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chưa bằng 1/10 của Malaysia hay Thái Lan. Tuy nhiên, vào năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên hơn 240 tỷ USD, bắt kịp các quốc gia láng giềng này.

Các nỗ lực của Việt Nam nhằm cải thiện chính sách thương mại quốc tế bằng cách theo sát các xu hướng trên thế giới đã được các doanh nghiệp nước ngoài đánh giá cao.

Đáng chú ý, các nỗ lực này bao gồm việc đưa vào thực thi Hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ, gia nhập WTO vào năm 2007 và tham gia CPTPP vào năm 2010.

Các nỗ lực của Việt Nam nhằm tạo nền tảng cho một môi trường đầu tư mở cho hàng loạt quốc gia và khu vực, như việc tổ chức Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản, nơi các doanh nghiệp và tổ chức của Nhật Bản thảo luận với chính phủ của hai nước, hay Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) với sự tham gia của các doanh nghiệp phương Tây, cũng góp phần không nhỏ vào các nỗ lực này.

Phóng viên: Ông có đề xuất gì giúp các nhà lãnh đạo Việt Nam duy trì sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước trong tương lai?

Ông Hironobu Kitagawa: Trong cuộc khảo sát về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản ở châu Á và châu Đại Dương do JETRO tiến hành trong năm 2019, các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá Việt Nam cao nhất trong khối ASEAN khi có tới 63,9% trong số doanh nghiệp được hỏi cho biết họ dự định sẽ mở rộng hoạt động kinh doanh tại nước này.

Về môi trường đầu tư, “quy mô thị trường và tiềm năng tăng trưởng” và “sự ổn định chính trị và xã hội” là hai nhân tố được các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá cao nhất. Có thể coi đây là lời khen ngợi về sự ổn định trong chính sách mở cửa nền kinh tế của Việt Nam với các quốc gia khác và hệ thống quản trị của nước này.

Tuy nhiên, có 61,1% doanh nghiệp tham gia cuộc khảo sát trên bày tỏ quan ngại về vấn đề “chi phí nhân công tăng”, 42,6% quan ngại về vấn đề “quản trị chính sách không rõ ràng của chính quyền địa phương”, và 38,6% lo ngại về vấn đề “tỷ lệ nhân viên chuyển việc cao”. Đây chính là các nhân tố đứng đầu trong danh sách “các rủi ro liên quan tới môi trường kinh doanh”.

Mặt khác, cho dù các doanh nghiệp tham gia cuộc khảo sát chỉ ra rằng các rủi ro liên quan tới các thủ tục hành chính đã giảm, nhưng khi được hỏi về các rủi ro trong quá trình kinh doanh ở Việt Nam, các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn nêu ra một số rủi ro như việc giảm các ưu đãi đầu tư hay tình trạng thiếu điện. Theo tôi, việc giải quyết từng quan ngại này sẽ giúp tạo điều kiện cho việc tiếp tục đầu tư và mở rộng các dự án.

Phóng viên: Trong thời qua qua, Chính phủ và các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam. Theo ông, chúng ta cần làm gì để thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp này trong tương lai?

Ông Hironobu Kitagawa: Mặc dù cho đến thời điểm này, các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp Nhật Bản, vẫn coi Việt Nam là cơ sở sản xuất nhưng tôi cho rằng Việt Nam đang phát triển ở tầm cao hơn.

Chúng ta cần nhận thức rõ tiềm năng của sự hợp lực thông qua việc kết hợp tri thức của Nhật Bản và Việt Nam. Với sự ra đời của các kỳ lân như Công ty Cổ phần Tập đoàn Vina (VNG) trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tiềm năng của Việt Nam có thể cao hơn so với Nhật Bản.

Hoạt động giao lưu của giới thanh niên, như giữa các sinh viên đại học, và các nguồn nhân lực có kỹ năng cao của hai nước đóng vai trò rất quan trọng cho sự hợp lực này.

Bên cạnh đó, một lĩnh vực tiềm năng khác cho sự hợp lực giữa hai nước đó là nông, lâm và ngư nghiệp. Có gần 40% (chính xác là 37,7%) lực lượng lao động của Việt Nam đang làm việc trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, do lĩnh vực này chỉ chiếm 15% GDP của Việt Nam nên cần phải nâng cao giá trị gia tăng trong ngành này.

Một nhà hàng Italy do một người Nhật Bản điều hành đang sản xuất pho mát không ủ chín bằng cách thu mua sữa trực tiếp từ những người chăn nuôi gia súc ở Đà Lạt và sau đó, bán lại cho chính nhà hàng này cũng như cho các khách sạn và hãng bán lẻ.

Câu chuyện này đã thu hút sự chú ý của các phương tiện truyền thông ở Việt Nam cũng như nước ngoài. Việc nhân rộng các ngành thứ 6 của Nhật Bản và Việt Nam sẽ giúp tạo ra “ngành thứ 36”.

Phóng viên: Xin chân thành cảm ơn ông!

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục