Quỹ rủi ro tìm kiếm thăm dò: Cơ chế cần thiết để gia tăng trữ lượng dầu khí bù khai thác

  • Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Việc khôi phục lại Quỹ rủi ro tìm kiếm thăm dò chính là cơ chế tài chính cần thiết để gia tăng trữ lượng bù khai thác cũng như tạo nguồn lực đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng mới.

Hoạt động khai thác dầu khí trên mỏ Bạch Hổ. Ảnh: Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn

Với sản lượng khai thác dầu khí sụt giảm tự nhiên khoảng 5 - 8%/năm, việc khôi phục lại Quỹ rủi ro tìm kiếm thăm dò chính là cơ chế tài chính cần thiết để gia tăng trữ lượng bù khai thác cũng như tạo nguồn lực đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng mới, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng.

*Thách thức trong tìm kiếm thăm dò khai thác

Theo Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam Nguyễn Quốc Thập, tại Việt Nam, Bạch Hổ là mỏ dầu khí đầu tiên được đưa vào khai thác từ năm 1986, đến nay mỏ này đã ở vào giai đoạn khai thác cuối. Tiếp theo Bạch Hổ, một loạt các mỏ khác cũng được đưa vào khai thác nhưng hiện các mỏ này cũng đã ở giai đoạn suy giảm.

Thống kê của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho thấy, phần lớn các mỏ đang khai thác ở Việt Nam đều đi vào khai thác từ năm 1986 - 2015. Trong đó, các mỏ có sản lượng lớn đều đã khai thác từ 15 - 35 năm, hiện ở giai đoạn khai thác cuối đời mỏ, độ ngập nước cao và tiếp tục tăng liên tục theo thời gian. Độ ngập nước trung bình của một số mỏ hiện đã ở mức 50 - 90%, dẫn đến sản lượng khai thác bị suy giảm tự nhiên như nhiều mỏ trên thế giới.

Số liệu từ Petrovietnam cũng cho thấy tổng trữ lượng (cập nhật đến năm 2023) còn khoảng 1,5-2 tỷ m3 quy dầu, nhưng 50% tiềm năng lại ở vùng nước sâu xa bờ rất khó triển khai, trong đó tiềm năng khí chiếm tới 70%, chỉ có 30% là dầu. Như vậy, việc duy trì được sản lượng dầu, thúc đẩy tăng sản lượng khí là một thách thức rất lớn với Petrovietnam trong giai đoạn tới đây. 

Trong khi đó, với những nỗ lực vượt bậc, hệ số gia tăng trữ lượng bù trừ vào sản lượng khai thác dầu khí trong nước năm 2024 của Petrovietnam đạt mức 1,07 lần, mức đủ đảm bảo an toàn khai thác bền vững. Tuy nhiên, hệ số này của Petrovietnam vẫn thấp hơn hệ số lý tưởng 1,2-1,5 lần của các công ty, tập đoàn dầu khí trên thế giới.

Luật sư Trương Anh Tú - Chủ tịch TAT Law Firm. Ảnh: Khánh Ly/Bnews/vnanet.vn

Nhìn nhận về việc gia tăng trữ lượng, Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm khẳng định "trữ lượng hôm nay chính là sản lượng của ngày mai. Nếu không liên tục đầu tư cho tìm kiếm, thăm dò, nguồn tài nguyên sẽ suy giảm theo quá trình khai thác tự nhiên. Khi đó, vấn đề không còn là câu chuyện riêng của doanh nghiệp mà liên quan trực tiếp đến khả năng bảo đảm nguồn cung năng lượng của đất nước". Việc gia tăng trữ lượng không chỉ là mục tiêu sản xuất kinh doanh của Petrovietnam mà còn gắn với năng lực tự chủ năng lượng, duy trì hệ sinh thái công nghiệp dầu khí và bảo đảm nguồn lực cho quá trình chuyển dịch năng lượng.

*Cần khôi phục Quỹ rủi ro tìm kiếm thăm dò

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), hiện các mỏ có điều kiện khai thác thuận lợi đã được đưa vào khai thác, trong khi các phát hiện mới chủ yếu nằm ở khu vực nước sâu, xa bờ với chi phí khai thác lớn và mức độ rủi ro cao hơn. Vì vậy, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế ưu đãi đầu tư theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng lô, mỏ dầu khí. Đối với các dự án có điều kiện phức tạp, cần có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và nhà đầu tư để tạo động lực triển khai hoạt động tìm kiếm, thăm dò.

Thực tế cho thấy hoạt động tìm kiếm - thăm dò dầu khí luôn có mức độ rủi ro cao nhất trong toàn bộ chuỗi giá trị của ngành công nghiệp dầu khí, nhưng đồng thời cũng là yếu tố quyết định khả năng duy trì sản lượng và bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn. Một giếng khoan thăm dò có thể tiêu tốn từ vài chục đến hàng trăm triệu USD, trong khi tỷ lệ thành công trên quy mô toàn cầu chỉ dao động khoảng 20-35%

Tiến sĩ Phan Ngọc Trung, Trưởng ban Tư vấn Phản biện Hội Dầu khí Việt Nam cho biết chính vì mức độ rủi ro cao như vậy, các tập đoàn dầu khí trên thế giới thường hình thành Quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí để bảo đảm hoạt động và đó được xem là chi phí. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để Petrovietnam có thể sớm hiện thực quan điểm, mục tiêu phát triển các dạng năng lượng mới, năng lượng tái tạo ngoài khơi theo tinh thần Kết luận số 76-KL/TW ngày 24/4/2024 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 và định hướng cho giai đoạn mới.

Việc hình thành Quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí cũng sẽ tạo nguồn lực quan trọng để Petrovietnam hiện thực hoá các chỉ đạo của Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; trong đó có nội dung về “đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò nhằm gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, nước sâu, xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia; nâng cao hệ số thu hồi, tận thu các mỏ nhỏ, khối sót cận biên. Có chiến lược chủ động, hiệu quả trong hợp tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài. Đẩy nhanh khai thác các mỏ khí trong nước gắn với các chuỗi dự án khí điện, bảo đảm lợi ích tổng thể quốc gia”.

Tại Việt Nam, theo Quyết định số 143/2008/QĐ-TTg ngày 29/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế trích lập, quản lý và sử dụng Quỹ tìm kiếm thăm dò, Quỹ này được trích lập hàng năm từ các nguồn: Trích không quá 10% tiền lãi dầu khí nước chủ nhà để lại hàng năm cho Công ty mẹ Petrovietnam;  Trích 10% từ lợi nhuận sau thuế hàng năm của Công ty mẹ Petrovietnam; Các nguồn vốn khác (nếu có). Tuy nhiên, Quỹ Thăm dò khai thác  đã kết thúc hoạt động vào cuối năm 2023 theo Điều 40, Nghị định số 36/2018/NĐ-CP.

Đại biểu Quốc hội Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Petrovietnam đề xuất nghiên cứu khôi phục Quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí tại phiên thảo luận tại tổ chiều 4/8 về Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). Ảnh: Petrovietnam

Trong phiên thảo luận tại tổ ngày 4/8 (Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI) về Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), Đại biểu Quốc hội Lê Ngọc Sơn (đoàn Thành phố Hồ Chí Minh), Chủ tịch Petrovietnam đã đề nghị nghiên cứu khôi phục Quỹ rủi ro tìm kiếm thăm dò dầu khí.

Theo đó, trong bối cảnh yêu cầu bảo đảm an ninh và tự chủ năng lượng ngày càng cao, hoạt động điều tra cơ bản, tìm kiếm và thăm dò dầu khí cần được nhìn nhận không chỉ ở góc độ đầu tư kinh tế mà còn là nhiệm vụ tạo lập dữ liệu quốc gia về tài nguyên dầu khí, phục vụ hoạch định chính sách biển, đồng thời góp phần thực thi, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam...Đại biểu Quốc hội Lê Ngọc Sơn cũng đề nghị giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế triển khai và kiểm soát việc sử dụng nguồn lực của Quỹ.

Nhìn nhận về đề xuất này, Luật sư Trương Anh Tú cho biết đề xuất nghiên cứu khôi phục Quỹ tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí cần được nhìn nhận như một công cụ tài chính nhằm bổ sung nguồn lực cho hoạt động đầu tư có tính chiến lược này.

Cũng theo Luật sư Trương Anh Tú, có một số ý kiến cho rằng Quỹ này có thể chồng lấn với Điều 64 của Luật Dầu khí năm 2022. Tuy nhiên, Điều 64 là cơ chế xử lý rủi ro sau đầu tư, còn Quỹ tìm kiếm thăm dò là cơ chế tạo nguồn lực trước đầu tư. Một cơ chế bảo vệ người ra quyết định, một cơ chế giúp doanh nghiệp có nguồn lực để tiếp tục đầu tư và chấp nhận rủi ro. Hai cơ chế này không thay thế nhau mà có thể bổ trợ cho nhau nếu được thiết kế phù hợp.

"Thể chế tốt không phải là thể chế loại bỏ hoàn toàn rủi ro, mà là thể chế biết phân bổ và chia sẻ rủi ro một cách hợp lý để doanh nghiệp có thể thực hiện những nhiệm vụ chiến lược vì lợi ích quốc gia. Đầu tư cho Petrovietnam, xét đến cùng, không chỉ là đầu tư cho một doanh nghiệp, mà là đầu tư cho năng lực tự chủ năng lượng, cho gia tăng trữ lượng và cho sự phát triển bền vững của đất nước trong nhiều thập niên tới", Luật sư Trương Anh Tú nhấn mạnh.

Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục