BNEWS Sau 6 năm triển khai, Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng miền núi.
Sau 6 năm triển khai Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đến nay, chính sách này đã từng bước lan tỏa, tạo nguồn tài chính mới, ổn định, bền vững cho bảo vệ rừng. Đồng thời, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng miền núi.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, tính đến hết năm 2016, tổng số tiền thu được từ dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn cả nước là trên 6.510 tỷ đồng, bình quân đạt trên 1.200 tỷ đồng/năm.
Theo ông Nguyễn Bá Ngãi, số tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần quản lý bảo vệ 5,8 triệu ha rừng, chiếm 42% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng.
Đồng thời hỗ trợ các công ty lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho người dân miền núi bảo vệ rừng có điều kiện nâng cao đời sống trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang khó khăn.
Bên cạnh đó, từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, diện tích rừng bị thiệt hại trong giai đoạn 2011 – 2015 đã giảm lần lượt là 32,9% và 58,2% so với giai đoạn 2006-2010.
Hiện tại đã có hơn 500.000 hộ gia đình, cộng đồng được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng qua hình thức chi trả trực tiếp và chi trả qua nhận khoán. Bình quân chung cả nước các hộ được nhận từ chi trả dịch vụ môi trường rừng khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm, góp phần nâng cao thu nhập cho đồng bào.
Ngoài ra, đến nay, cả nước đã có 42 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ Trung ương đến địa phương. Hiện tại các Quỹ đã ổn định tổ chức và đi vào hoạt động hiệu quả.
Theo Thứ trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Hà Công Tuấn, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách mới có tính khả thi cao, phù hợp với xu hướng quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, được các bên liên quan thực hiện tích cực, mang lại hiệu quả thiết thực.
Sau 6 năm, toàn quốc đã triển khai ký kết được 471 hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng; trong đó, Quỹ Trung ương ký 63 hợp đồng, Quỹ địa phương ký 408 hợp đồng; thu được trên 6.510 tỷ đồng và đã giải ngân trên 80%, góp phần ổn định thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân làm nghề rừng.
Đồng thời, hàng năm, tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đã hỗ trợ quản lý, bảo vệ 5,8 triệu ha rừng, tương đương 42% tổng diện tích rừng cả nước.
Đến nay, đã có 322 công ty thủy điện, 88 công ty nước sạch và 59 công ty du lịch ký hợp đồng, chi trả ủy thác tiền dịch vụ môi trường rừng với Quỹ Trung ương và quỹ tỉnh, thu về được hơn 7.466 tỷ đồng; trong đó 6.510 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng và 956,5 tỷ đồng tiền trồng rừng thay thế.
Số tiền này tương đương 22% tổng đầu tư bình quân năm của toàn xã hội cho ngành lâm nghiệp. Đây là nguồn tài chính ổn định, bền vững có khả năng sẽ được tiếp tục tăng cao do khai thác các dịch vụ môi trường rừng, qua đó góp phần làm giảm đầu tư ngân sách nhà nước đầu tư cho ngành lâm nghiệp.
Đánh giá về hiệu quả của chính sách này, ông Võ Đình Thọ - Giám đốc Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Lâm Đồng cho hay, nhờ vận động tích cực nên các đối tượng chi trả môi trường rừng đã đồng thuận cao nên việc thu tiền dịch vụ môi trường rừng của địa phương rất thuận lợi. Tuy nhiên, vẫn còn một số đơn vị chưa nộp tiền hoặc nộp tiền chậm.
Cũng theo ông Thọ, diện tích được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là 420.000 ha trên tổng số diện tích đất lâm nghiệp có rừng của tỉnh là trên 513.000 ha; trong đó trên 360.000 ha đã được chi trả chiếm trên 84%.
Với mức chi trả hiện nay bình quân 1 hộ được thụ hưởng từ 8 – 12 triệu đồng/năm, giúp người dân tăng thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống.
Tại Lào Cai, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo ra một nguồn thu mới, ổn định lâu dài đối với người làm nghề rừng. Ngoài việc góp phần bảo vệ rừng tốt hơn, ý thức của người dân được nâng cao, đời sống người dân từng bước được cải thiện.
Tại một số nơi, đơn giá chi trả bình quân đạt 200.000 đồng/ha, cao hơn cả mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho công tác bảo vệ rừng như: lưu vực nhà máy thủy điện Nậm Khóa 3; nhà máy thủy điện Nậm Tha có đơn giá chi trả đạt từ 518.000 - 733.000 đồng/ha/năm.
Theo UBND tỉnh Lào Cai, tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế của người dân, giúp người dân gắn bó với rừng hơn.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết, tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng của cả nước là 14 triệu ha, (theo kết quả điều tra thống kê đến năm 2015).
Từ khi thực thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đem lại hiệu quả bước đầu, nhiều người dân đã có thêm nhu nhập từ rừng. Bên cạnh đó, công tác bảo vệ rừng tốt hơn…
“Nhiều địa phương làm tốt như Lai Châu, kể cả huyện xa nhất như Nậm Lùn, thượng nguồn của sông Đà triển khai chính sách chi trả tốt nên rừng ở đây rất tốt. Nhiều người dân bước đầu yên tâm về kinh phí nhận được từ rừng.”- Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đưa ra dẫn chứng.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng chỉ ra những bất cập về rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn, đa dạng sinh học suy giảm, hệ sinh thái không còn như trước... Người làm rừng, người trồng rừng chưa thực sự sống được từ rừng tại một số khu vực.
Người đứng đầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhấn mạnh: “Để giải quyết vấn đề này cần sự đồng lòng của cả xã hội, cả hệ thống chính trị; phải theo nguyên tắc “lấy rừng nuôi rừng”, đó mới là bình đẳng, không thể lấy ngân sách nhà nước mãi được. Phải làm sao để người trồng rừng, người làm rừng sống được nhờ rừng”./.
Xem thêm:
>>> Thu hơn 6.510 tỷ đồng từ dịch vụ môi trường rừng
Tin liên quan
Sẽ nâng độ che phủ rừng toàn quốc lên 45% vào năm 2030
Mục tiêu chung của Chương trình Quốc gia về REDD+ nhằm góp phần bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng rừng trồng.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế xã hộiĐà Nẵng tìm giải pháp căn cơ để bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu
Theo Thạc sĩ Trần Hữu Vỹ, Chà vá chân xám là loài thú linh trưởng đặc hữu của Việt Nam. Hiện cả nước còn khoảng 1.500 - 2.000 cá thể sống trong những cánh rừng tại 4 tỉnh thành phố.
-
Kinh tế xã hộiVĩnh Long dẫn đầu cả nước về phục vụ người dân, doanh nghiệp
Vĩnh Long xếp thứ 1 trong số 34 tỉnh, thành phố; trong đó các tiêu chí về công khai, minh bạch và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đều đạt 100%.
-
Kinh tế xã hộiĐộng đất tại Nhật Bản: Ghi nhận thương vong đầu tiên
Một người đã thiệt mạng do nhà bị sập trong trận động đất có độ lớn 7,1 độ xảy ra ngoài khơi tỉnh Kumamoto, miền Nam Nhật Bản.
-
Kinh tế xã hộiLao động Việt Nam dũng cảm cứu người trong động đất Kumamoto
Chiều 28/7, trận động đất có độ lớn 7,1 xảy ra tại tỉnh Kumamoto, gây rung chấn mạnh nhất cấp 7 theo thang cường độ địa chấn của nước này.
-
Kinh tế xã hộiĐức: Lượng đặt phòng khách sạn trực tuyến đạt mức cao kỷ lục mới
Lượng đặt phòng nghỉ dưỡng qua các nền tảng trực tuyến đã leo lên mức kỷ lục mới ở Đức, tăng mạnh so với năm ngoái và trước đại dịch COVID-19.
-
Kinh tế xã hộiViệt Nam - Lào tăng cường hợp tác giữa các cơ quan lý luận của Đảng
Tạp chí Cộng sản sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Tạp chí Alounmai, góp phần cụ thể hóa nội hàm "gắn kết chiến lược" trong quan hệ Việt Nam - Lào theo định hướng của lãnh đạo cấp cao hai Đảng.
-
Kinh tế xã hộiTây Ninh gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số bằng chiến dịch 100 ngày
Với mục tiêu tạo chuyển biến thực chất trên cả ba trụ cột chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, Tây Ninh đang tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” về chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị.
-
Kinh tế xã hộiĐộng đất tại Nhật Bản: Cộng đồng người Việt an toàn
Theo xác nhận của đại diện Đại sứ quán, đến nay chưa ghi nhận trường hợp nào thương vong hoặc bị thiệt hại nghiêm trọng do trận động đất trên.
-
Kinh tế xã hộiHai bức ảnh trong chiếc ví cũ: Thắp hy vọng gọi đúng tên người lính
Việc tìm thấy hai bức ảnh cùng kỷ vật không chỉ mang ý nghĩa chuyên môn với công tác giám định ADN, mà còn thắp lên hy vọng về ngày người lính hi sinh trên chiến trường năm xưa được gọi đúng tên mình.











