Thủy sản trước sức ép tăng trưởng và cạnh tranh bền vững

  • Xuân Anh/vnanet.vn

BNEWS Các chuyên gia thị trường nhận, định mục tiêu vượt 12 tỷ USD xuất khẩu thủy sản trong năm 2026 vẫn khả thi nếu nhu cầu tại Trung Quốc duy trì và đơn hàng mùa cao điểm không bị gián đoạn.

Xuất khẩu thủy sản đang duy trì đà tăng trưởng trong năm 2026, song tốc độ đã có dấu hiệu chậm lại khi sức ép từ thuế thương mại, phòng vệ thương mại và các yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng rõ nét. Trong bối cảnh đó, mở rộng thị trường, nâng giá trị sản phẩm và tháo gỡ các điểm nghẽn về nguyên liệu, hạ tầng nuôi trồng, logistics,… được xem là những giải pháp quan trọng để ngành thủy sản phát triển bền vững trong dài hạn.

Chế biến sản phẩm thủy sản xuất khẩu tại Công ty phát triển kinh tế Duyên Hải (Cofidec). Ảnh: Phan Phương - TTXVN

*Đà tăng chậm lại

Theo số liệu của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (Vasep), tháng 8/2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,14 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 8 tháng, kim ngạch đạt 8 tỷ USD, tăng 11,8%. Tuy nhiên, mức tăng này đã chậm lại so với 12,8% của 7 tháng đầu năm.

Đáng chú ý, tăng trưởng xuất khẩu thủy sản đang có sự phân hóa rõ giữa các thị trường. Trong khi Trung Quốc (bao gồm Hong Kong) và ASEAN tiếp tục tăng trưởng mạnh, thị trường Hoa Kỳ, EU chịu sức ép suy giảm ngày càng lớn. Theo đó, Trung Quốc tiếp tục là động lực tăng trưởng lớn nhất của thuỷ sản Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu tháng 8 đạt 287,7 triệu USD, tăng 26,2%; lũy kế 8 tháng đạt 2,03 tỷ USD, tăng 33,4%; chiếm 25,35% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước.

Nhu cầu đối với tôm, cá tra, cua ghẹ và cá biển tăng đã giúp thị trường này đóng góp hơn 60% tăng trưởng của toàn ngành. ASEAN cũng là điểm sáng với kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đạt 544,9 triệu USD, tăng 20%; riêng tháng 8 tăng 31%. Xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật Bản 8 tháng đạt 1,11 tỷ USD, tăng nhẹ 2%; thị trường Hàn Quốc mang về 566,3 triệu USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu vào Hoa Kỳ chịu nhiều áp lực từ các chính sách thương mại. Tháng 8, xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kỳ giảm 11,4%, còn 167,74 triệu USD; tính chung 8 tháng đạt 1,24 tỷ USD, gần như đi ngang so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu sang EU cũng giảm 1,6% sau 8 tháng, đạt 749,9 triệu USD, chủ yếu do nhóm tôm và cá ngừ suy yếu.

Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Vasep phân tích, việc Hoa Kỳ áp mức thuế bổ sung theo Điều 301, Đạo Luật thương mại Hoa Kỳ đối với hàng hóa Việt Nam ở mức 12,5%, cao hơn mức 10% của một số đối thủ, đang làm gia tăng bất lợi cạnh tranh về giá đối với thủy sản Việt Nam. Cùng với đó, kết quả sơ bộ rà soát thuế chống bán phá giá với tôm Việt Nam tăng đáng kể.

Kết quả cuối cùng dự kiến được công bố vào cuối tháng 9 sẽ có ảnh hưởng quan trọng tới đơn hàng quý IV và những năm tiếp theo. Nếu mức thuế duy trì cao, dòng hàng có thể tiếp tục chuyển hướng sang các thị trường châu Á, đồng thời tạo thêm áp lực lên giá bán.

Xét theo nhóm hàng, tôm tiếp tục giữ vai trò chủ lực với kim ngạch 485,5 triệu USD trong tháng 8, tăng 5,7%. Lũy kế 8 tháng đạt 3,29 tỷ USD, tăng 12,3%, chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Trung Quốc tiếp tục là lực kéo chính của ngành tôm khi đạt 1,13 tỷ USD, tăng 37,6%.

Trong tháng 8, xuất khẩu tôm sang Nhật Bản tăng 10%, Hàn Quốc tăng 16% và ASEAN tăng tới 48%. Trong khi đó, xuất khẩu tôm sang Hoa Kỳ tháng 8 giảm 22%, còn 70 triệu USD; tính chung 8 tháng giảm 13,4%, xuống 427,6 triệu USD. Tại EU, tiêu thụ tôm Việt Nam trong tháng 8 giảm 18%, tính chung 8 tháng giảm 2,7%.

Cá tra cũng ghi nhận mức tăng tích cực nhưng không đồng đều. Tháng 8, xuất khẩu cá tra đạt 194,8 triệu USD, tăng 0,4%; lũy kế 8 tháng đạt 1,5 tỷ USD, tăng 9%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn với kim ngạch 435,21 triệu USD, tăng 26,5%. Đặc biệt, xuất khẩu cá tra sang EU trong tháng 8 tăng 42%, đưa kim ngạch 8 tháng lên 131,7 triệu USD, tăng 11,4%. Nguồn cung cá thịt trắng tự nhiên tại châu Âu thiếu hụt, trong khi giá cá tuyết tăng, đang tạo thêm dư địa cho cá tra Việt Nam.

Trái lại, Hoa Kỳ trở thành mắt xích yếu nhất của xuất khẩu cá tra. Tháng 8, kim ngạch chỉ đạt 12,5 triệu USD, giảm gần 55%; tính chung 8 tháng đạt 201,7 triệu USD, giảm 13,9%. Theo bà Lê Hằng, kết quả cuối cùng của kỳ rà soát hành chính lần thứ 21 (POR21) đối với lệnh thuế chống bán phá giá cá tra – cá basa đông lạnh của Việt Nam được công bố giữa tháng 8 vừa qua không thuận lợi khi mức thuế áp dụng tăng từ 2-4 lần so với công bố sơ bộ trước đó, khiến các nhà nhập khẩu càng thận trọng.

Do đó, xuất khẩu cá tra sang Hoa Kỳ khó có thể phục hồi nhanh, tăng trưởng thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc, EU, ASEAN, Trung Đông và các thị trường ngách.

Xuất khẩu cá ngừ cũng chững lại khi kim ngạch tháng 8 đạt 78,1 triệu USD, giảm 11%; lũy kế 8 tháng đạt 622 triệu USD, chỉ tăng 0,5%. Trong đó, thị trường Hoa Kỳ tăng 8%, đạt 247,7 triệu USD, nhưng EU giảm 20%, còn 113,6 triệu USD.

Đáng chú ý, xuất khẩu mực và bạch tuộc tiếp tục duy trì đà tăng, đạt 75 triệu USD trong tháng 8, tăng 5,7%; lũy kế 8 tháng đạt 524 triệu USD, tăng 14,4%. Xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng 18,7%, ASEAN tăng 33,1%, nhờ nguồn cung mực tại Hàn Quốc giảm, giá bán lẻ tăng và Trung Quốc gia tăng nhập khẩu.

Công nhân Công ty TNHH Thủy sản Tứ Hải chế biến hải sản xuất khẩu. Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN

*Tháo gỡ điểm nghẽn để đi đường dài

Theo Vasep, từ tháng 9 đến cuối năm, nhu cầu phục vụ mùa lễ hội và chu kỳ bổ sung tồn kho có thể giúp xuất khẩu thủy sản duy trì kim ngạch ở mức cao. Tuy nhiên, rủi ro chính sách sẽ tiếp tục quyết định cơ cấu tăng trưởng. Đối với tôm, kết quả thuế chống bán phá giá dự kiến vào cuối tháng 9 sẽ quyết định xu hướng đơn hàng tại Hoa Kỳ; trong khi tăng trưởng xuất khẩu cá tra chủ yếu đến từ nhu cầu của Trung Quốc và EU. 

Đối với cá ngừ, mực, bạch tuộc và các sản phẩm khai thác, yêu cầu về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), hệ thống CATCH của EU và truy xuất nguồn gốc ngày càng sâu sẽ làm tăng chi phí tuân thủ.

Các chuyên gia thị trường nhận, định mục tiêu vượt 12 tỷ USD xuất khẩu thủy sản trong năm 2026 vẫn khả thi nếu nhu cầu tại Trung Quốc duy trì và đơn hàng mùa cao điểm không bị gián đoạn. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong quý IV có thể thấp hơn những tháng đầu năm. Trong bối cảnh đó, tăng trưởng của ngành thủy sản đang chuyển từ cuộc đua về sản lượng sang cuộc đua về giá trị gia tăng và khả năng chống chịu trước chi phí thương mại.

Đối với mặt hàng chủ lực là tôm, ông Mai Văn Hoàng, Tổng Giám đốc Tập đoàn Thủy sản Công nghệ cao GrowMax, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam cho rằng, hai điểm nghẽn lớn hiện nay là con giống và công nghệ nuôi. Theo đó, Việt Nam dù là quốc gia xuất khẩu tôm lớn trên thế giới song hầu như đang phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tôm giống bố mẹ nhập khẩu. Thêm vào đó, chất lượng nguồn nước ở các vùng nuôi tôm chưa đảm bảo, chủ yếu dùng chung hệ thống thuỷ lợi sản xuất lúa làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh.

Theo ông Mai Văn Hoàng, muốn củng cố năng lực cạnh tranh của tôm Việt trên thị trường, cần đầu tư nghiên cứu phát triển nguồn gen tôm bố mẹ trong nước, tiến tới chủ động số lượng và chất lượng tôm giống. Song song đó, Nhà nước cần khuyến khích nhân rộng mô hình nuôi tôm công nghệ cao thông qua hỗ trợ tài chính và tiếp cận đất đai. Từ đó, cải thiện năng suất, chất lượng tôm nguyên liệu phục vụ chế biến.

“Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, logistics đồng bộ ở khu vực nuôi - chế biến thuỷ sản trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long cũng là giải pháp quan trọng giúp cắt giảm đáng kể chi phí sản xuất,  không chỉ cho tôm, cá tra mà còn nhiều loại nông sản khác của Việt Nam”, ông Mai Văn Hoàng đề xuất.

Ông Đỗ Ngọc Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, để đảm bảo tăng trưởng “2 con số” từ năm 2026, ngành thủy sản cần đổi mới mô hình, chiến lược thay vì chủ yếu dựa vào gia tăng sản lượng. Trọng tâm là tối ưu giá thành nuôi, nâng giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và bảo đảm chuỗi cung ứng không bị gián đoạn.

Một trong những hạn chế lớn hiện nay là nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu chưa ổn định, trong khi chi phí đầu vào còn cao. Đối với nuôi trồng, chất lượng con giống, kiểm soát dịch bệnh, giá thức ăn và vật tư vẫn tác động trực tiếp đến sản lượng và giá thành.

Theo ông Đỗ Ngọc Tài, để đảm bảo nguồn cung nguyên liệu phù hợp với năng lực chế biến, xuất khẩu thuỷ sản, Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển vùng nuôi tập trung, nuôi biển công nghiệp, liên kết chuỗi và số hóa quản lý vùng nuôi, môi trường và truy xuất nguồn gốc.

Đối với khai thác biển, cơ quan quản lý cần thống nhất hướng dẫn về cảng cá, chứng nhận an toàn thực phẩm; tăng đầu tư và xã hội hóa phát triển các cảng cá đủ điều kiện; đồng thời rà soát quy định phân vùng khai thác phù hợp hơn với đặc điểm nghề cá nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu chống IUU.

Các thủ tục cấp giấy chứng nhận khai thác, xác nhận thủy sản khai thác hợp pháp, xác nhận chế biến, chứng thư phân tích,… cũng cần được số hóa, thực hiện thống nhất trên một hệ thống nhằm hạn chế điểm nghẽn đối với nguồn nguyên liệu hợp pháp. Đây không chỉ là giải pháp ứng phó với sức ép trước mắt, mà còn là nền tảng để ngành thủy sản nâng sức cạnh tranh và hướng tới tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Xuân Anh/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục