Tổ chức lại không gian phát triển - Bài 4: Bứt phá từ mạng lưới công nghiệp thế hệ mới

  • Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Cả nước hiện có khoảng 478 KCN được thành lập, nhưng tỷ lệ lấp đầy tại các khu đang hoạt động đạt gần 79%, đặt ra yêu cầu tăng liên kết vùng, đồng bộ hạ tầng và nâng chất lượng không gian sản xuất.

Phối cảnh Khu công nghiệp số 01 – Green One của Viglacera tại Hưng Yên.

Cả nước hiện có khoảng 478 khu công nghiệp được thành lập, nhưng tỷ lệ lấp đầy tại các khu đang hoạt động đạt gần 79%, đặt ra yêu cầu tăng liên kết vùng, đồng bộ hạ tầng và nâng chất lượng không gian sản xuất. Nghị quyết 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, phát huy vai trò các cực tăng trưởng và tăng cường liên kết vùng. Với định hướng này, hệ thống khu công nghiệp cần chuyển từ mở rộng quỹ đất riêng lẻ sang hình thành mạng lưới sản xuất có khả năng kết nối hạ tầng, chuỗi cung ứng và đáp ứng nhu cầu mới của doanh nghiệp.

* Từ mở rộng số lượng đến tổ chức mạng lưới sản xuất

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), đến cuối năm 2025, cả nước có 478 khu công nghiệp được thành lập, với tổng diện tích đất tự nhiên theo quy hoạch khoảng 146.000 ha, tạo quỹ đất công nghiệp khoảng 101.600 ha. Trong đó, 324 khu đã đi vào hoạt động, 153 khu đang xây dựng; tỷ lệ lấp đầy tại các khu đang hoạt động đạt khoảng 78,8%. Hệ thống này tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 4,15 triệu lao động. 

Tuy nhiên, quỹ đất công nghiệp không phân bố đồng đều về chất lượng và khả năng tiếp cận. Tỷ lệ lấp đầy tại các khu đang hoạt động ở những địa phương trọng điểm phía Bắc khoảng 83%, trong khi khu vực trọng điểm phía Nam lên tới 92%. Điều này cho thấy các địa bàn có hệ sinh thái sản xuất, giao thông và logistics phát triển đang chịu áp lực lớn về mặt bằng công nghiệp chất lượng cao. 

Theo TS Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, mô hình khu công nghiệp dựa chủ yếu vào hạ tầng cơ bản và chi phí nhân công cần chuyển sang hệ sinh thái sản xuất thông minh, xanh, tích hợp chuỗi giá trị và tăng năng lực nội tại của nền kinh tế.

Muốn vậy, cần thay đổi cách tổ chức không gian công nghiệp. Thay vì mỗi địa phương phát triển khu công nghiệp như một dự án thu hút đầu tư độc lập, quy hoạch cần xác định rõ vai trò của từng khu trong tổng thể vùng: Nơi tập trung sản xuất công nghệ cao, nơi phát triển công nghiệp hỗ trợ, nơi đảm nhiệm logistics hoặc chế biến, chế tạo gắn với lợi thế nguyên liệu và vận tải.

Nhấn mạnh vai trò của khu công nghiệp trong hình thành các cụm công nghiệp và hệ sinh thái sản xuất tích hợp, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương - TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng, việc kết nối khu công nghiệp với cảng biển, sân bay, đường sắt, trung tâm logistics, viện nghiên cứu và trường đại học có thể giúp giảm chi phí giao dịch, nâng hiệu quả vận chuyển và thúc đẩy liên kết giữa các địa phương. 

Đây là cơ sở để tổ chức mạng lưới công nghiệp theo chuỗi giá trị thay vì ranh giới hành chính. Đơn cử như Hà Nội có thể phát huy lợi thế về dịch vụ, nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo, kết nối với các trung tâm sản xuất tại Bắc Ninh, Hải Phòng và các địa bàn công nghiệp trong vùng Đồng bằng sông Hồng. Tại phía Nam, TP. Hồ Chí Minh có thể giữ vai trò trung tâm tài chính, công nghệ và dịch vụ, liên kết với các cụm sản xuất ở Đồng Nai và những đầu mối cảng biển, logistics của vùng Đông Nam Bộ.

Thánh phố Bắc Ninh đẩy mạnh làm hạ tầng khu công nghiệp. Ảnh minh họa: Thanh Thương/BNEWS/TTXVN

Qua đó, tăng cường liên kết vùng, phát triển các hành lang kinh tế và khắc phục tình trạng đầu tư phân tán trong tổ chức không gian phát triển. Hiệu quả quy hoạch sẽ không chỉ được đo bằng số khu công nghiệp thành lập hay diện tích đất đưa vào khai thác, mà còn ở khả năng hình thành chuỗi cung ứng, giảm chi phí sản xuất và nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước.

* Kết nối hạ tầng, đáp ứng yêu cầu sản xuất mới

Một số khu công nghiệp cho thấy lợi thế của việc gắn không gian sản xuất với mạng lưới giao thông và logistics. Điển hình như mới đây, Viglacera vừa khởi công xây dựng Khu công nghiệp Green One tại Hưng Yên. Ông Nguyễn Anh Tuấn – Giám đốc Công ty cổ phần Viglacera Hưng Yên chia sẻ, dự án nằm gần nút giao Yên Mỹ, tiếp giáp cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và kết nối với các tuyến đường tỉnh 382, 382B.

Green One cách trung tâm Hà Nội khoảng 30 km, sân bay Nội Bài 50 km và cảng biển quốc tế Hải Phòng 90 km. Dự án cũng được định hướng kết nối với đường Vành đai 4 Vùng Thủ đô và các tuyến giao thông liên vùng trong tương lai. Vị trí này tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các trung tâm sản xuất phía Bắc, tổ chức vận chuyển hàng hóa và xuất nhập khẩu. Khả năng kết nối với Hà Nội cũng là lợi thế trong việc tiếp cận nguồn nhân lực kỹ thuật, cơ sở đào tạo và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.

Đây là xu thế tất yếu được các chủ đầu tư khu công nghiệp hướng tới. Cũng tại miền Bắc, Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh nằm trong vùng công nghiệp có khả năng kết nối với Hà Nội, sân bay Nội Bài và các tuyến giao thông hướng tới cảng Hải Phòng. Với quy mô khoảng 700 ha, khu công nghiệp này có điều kiện tiếp cận thị trường lao động, dịch vụ và mạng lưới doanh nghiệp điện tử, chế tạo trong vùng. 

Hay tại Hải Phòng, DEEP C Hải Phòng 1 nằm trong Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, gần hệ thống cảng biển và sân bay Cát Bi. Khu vực này thu hút các ngành công nghiệp, logistics và sản xuất hướng xuất khẩu. Trong khi đó, DEEP C Hải Phòng 3 được định hướng phát triển gắn với cảng Lạch Huyện, công nghiệp hỗ trợ, điện tử và sản xuất ôtô. Vị trí gần các đầu mối vận tải và trung tâm sản xuất tạo điều kiện phát triển dịch vụ cung ứng, kho vận và liên kết giữa doanh nghiệp...

Ở phía Nam, Khu công nghiệp Amata Biên Hòa tại Đồng Nai có diện tích khoảng 513 ha, tỷ lệ đất đã cho thuê được công bố ở mức 90,86%. Khu công nghiệp này thu hút nhiều lĩnh vực như điện tử, cơ khí, thực phẩm và dược phẩm. Nằm trong không gian công nghiệp lâu đời của Đồng Nai, Amata có khả năng kết nối với TP. Hồ Chí Minh và các trung tâm sản xuất, dịch vụ của vùng Đông Nam Bộ. 

Từ thực tế cho thấy, liên kết công nghiệp không nhất thiết đòi hỏi những khu công nghiệp phải nằm liền kề nhau. Mạng lưới còn được tạo thành từ quan hệ cung ứng, kết nối vận tải và phân công chức năng giữa các địa bàn. Một khu công nghiệp gần cảng có thể đảm nhận vai trò xuất nhập khẩu, trong khi khu vực khác chuyên sản xuất linh kiện, vật liệu hoặc cung cấp dịch vụ kỹ thuật.

Do đó, quy hoạch khu công nghiệp cần được đặt trong tổng thể quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và kế hoạch đầu tư hạ tầng. Việc lựa chọn vị trí phải tính đến năng lực kết nối đường bộ, đường sắt, đường thủy, cảng biển, sân bay và trung tâm logistics, thay vì chỉ dựa vào khả năng giải phóng mặt bằng. Bởi nếu khu công nghiệp mở rộng nhanh hơn năng lực giao thông, cấp điện, cấp nước và xử lý nước thải, chi phí vận hành sẽ tăng, gây áp lực lên đô thị và làm giảm sức cạnh tranh.

Hệ thống điện mặt trời áp mái tại công ty cổ phần Kizuna JV tại khu công nghiệp Tân Kim (Tây Ninh). Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Nhu cầu mới của doanh nghiệp cũng đòi hỏi hệ thống khu công nghiệp đáp ứng tốt hơn về điện ổn định, hạ tầng số, nhân lực kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường. Các ngành công nghệ cao cần hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo và công nghiệp hỗ trợ; trong khi ngành có nhu cầu vận tải lớn cần được bố trí phù hợp với các đầu mối logistics. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy khu công nghiệp sinh thái, sử dụng hiệu quả năng lượng và nước, tái sử dụng tài nguyên, phát triển cộng sinh công nghiệp. Nhà ở công nhân, y tế, giáo dục và giao thông công cộng cũng cần được tính toán đồng bộ để bảo đảm nguồn lao động ổn định.

Phát triển mạng lưới không có nghĩa địa phương nào cũng phải mở thêm khu công nghiệp hoặc cạnh tranh thu hút cùng một nhóm ngành. Điều quan trọng là hình thành cơ chế điều phối quy hoạch, chia sẻ dữ liệu, xác định trách nhiệm đầu tư hạ tầng liên vùng và phân bổ nguồn lực theo lợi thế từng địa bàn.

Trong giai đoạn mới, thước đo thành công của quy hoạch công nghiệp không chỉ là số dự án được thu hút, mà còn là khả năng kết nối các cực tăng trưởng, nâng năng lực doanh nghiệp trong nước và tạo giá trị lan tỏa cho toàn vùng.

Bài cuối: Trung Quốc quy hoạch phát triển kinh tế vùng


Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục