Từ ruộng lúa đến thị trường các-bon

  • Đỗ Huyền/Bnews/Vnanet.vn

BNEWS Tín chỉ các-bon trong nông nghiệp không chỉ là những con số trên sàn giao dịch kỹ thuật số mà có thể trở thành những "mỏ vàng xanh", nơi mà lợi ích kinh tế và trách nhiệm môi trường được hòa làm một.

Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là cuộc cách mạng về môi trường, mà còn mở ra sinh kế mới từ tín chỉ các-bon, định hình lại bài toán chia sẻ lợi ích giữa nông dân, doanh nghiệp và Nhà nước.

Trong bối cảnh thế giới dịch chuyển trọng tâm kiểm soát khí hậu sang khí mê-tan (CH4), ngành nông nghiệp nước nhà đặc biệt là canh tác lúa nước đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Không còn dừng lại ở các mô hình sinh thái tự phát, Việt Nam đã chính thức bước vào cuộc chơi toàn cầu bằng Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030".

Câu hỏi lớn nhất đặt ra lúc này là: Khi lượng khí mê-tan giảm xuống và những tín chỉ các-bon đầu tiên được định hình, dòng tiền từ thị trường sẽ chảy về đâu và ai sẽ thực sự được hưởng lợi?

Việc số hóa giúp chuẩn hóa dữ liệu sản xuất ngay từ nông hộ, minh bạch hóa quá trình canh tác và tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV). Ảnh: Thu Hiền - TTXVN

Nông dân vốn là những người trực tiếp tạo ra lượng phát thải mê-tan qua tập quán canh tác ngập nước truyền thống, nhưng họ cũng chính là mắt xích quyết định thành bại của cuộc chuyển đổi này. Với kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD) và giảm lượng phân bón, giống, rác thải hữu cơ, lượng phát thải mê-tan có thể sụt giảm mạnh.

Nguồn giảm phát thải này, sau khi được đo đạc, thẩm định độc lập, sẽ biến thành các tín chỉ các-bon thương mại. Thực tế tại các vùng thí điểm thuộc Đề án 1 triệu héc-ta cho thấy, nông dân hoàn toàn có thể gia tăng thu nhập kép: Một mặt tiết kiệm được chi phí đầu vào (phân bón, nước, giống), mặt khác có cơ hội nhận tiền trực tiếp từ việc bán tín chỉ các-bon. Đây là câu trả lời đanh thép nhất cho thấy giảm phát thải không phải là một gánh nặng chi phí, mà là một cơ hội kinh tế rõ ràng cho người nông dân.

Các đại biểu và chuyên gia tham quan thực tế tại cánh đồng lúa thuộc Đề án 1 triệu héc ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại tỉnh An Giang. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN 

Tuy nhiên, thị trường các-bon không phải là một sàn giao dịch tự phát mà đòi hỏi cấu trúc pháp lý và chuỗi giá trị chặt chẽ. Để một tín chỉ các-bon từ ruộng lúa đến được tay các quỹ đầu tư quốc tế, cần sự vận hành nhịp nhàng của nhà nước và doanh nghiệp.

Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRR) chuẩn quốc tế, đồng thời định hình khung pháp lý để quản lý hạn ngạch và quyền sở hữu tín chỉ.

Doanh nghiệp là cầu nối tài chính và công nghệ. Họ đầu tư hạ tầng chế biến, bao tiêu sản phẩm lúa gạo đạt chuẩn "xanh" với giá cao hơn để xuất khẩu sang các thị trường khó tính như EU, Mỹ. Đồng thời, trực tiếp tham gia hỗ trợ nông dân chuẩn hóa quy trình để gom nguồn tín chỉ các-bon đủ lớn cho quy mô thương mại.

Sự cân bằng lợi ích là chìa khóa cốt lõi. Doanh nghiệp cần lợi nhuận và nguồn hàng ổn định để gia tăng năng lực cạnh tranh toàn cầu. Nhà nước đạt được mục tiêu đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) về cắt giảm mê-tan. Và cuối cùng, phần lớn giá trị thặng dư từ thị trường các-bon phải được tái đầu tư trực tiếp cho cộng đồng người trồng lúa để duy trì tính bền vững.

Tín chỉ các-bon trong nông nghiệp không chỉ là những con số trên sàn giao dịch kỹ thuật số. Nó là công cụ tài chính hiện đại hóa cấu trúc nông thôn Việt Nam, biến những cánh đồng ngập nước phát thải thành những "mỏ vàng xanh", nơi mà lợi ích kinh tế và trách nhiệm môi trường được hòa làm một.

Đỗ Huyền/Bnews/Vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục