Ứng dụng khoa học, chuyển đổi số để tái cấu trúc ngành chăn nuôi

11:37' - 28/03/2026
BNEWS Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là giải pháp rất quan trọng để tạo sự đột phát, phát triển nhanh, bền vững, tạo nền tảng để tái cấu trúc ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại.
Tại Hội nghị Khoa học, công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần thứ nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường sáng 28/3 ở Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là giải pháp rất quan trọng để tạo sự đột phát, phát triển nhanh, bền vững, tạo nền tảng để tái cấu trúc ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại, hiệu quả và có sức cạnh tranh.

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, ngành chăn nuôi hiện tạo ra giá trị khoảng 33 tỷ USD, chiếm 27–28% GDP, đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh thực phẩm cho hơn 100 triệu dân, đồng thời tạo sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân. Ngành duy trì tốc độ tăng trưởng 4,5–6%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có quy mô chăn nuôi lớn trên thế giới, với đàn lợn đứng thứ 5 và gia cầm đứng thứ 9. Năm 2025, sản lượng đạt khoảng 8,68 triệu tấn thịt, 21,4 tỷ quả trứng và 1,3 triệu tấn sữa tươi.

Tuy nhiên, dư địa phát triển vẫn còn lớn nhưng đi kèm nhiều thách thức. Biến động địa chính trị, biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến phức tạp cùng đặc thù sản xuất nhỏ lẻ đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững, đảm bảo an toàn sinh học và thân thiện với môi trường. Trong bối cảnh đó, đột phá về khoa học, công nghệ được xem là yếu tố mang tính quyết định.

Thực tiễn cho thấy, các tiến bộ trong chọn tạo giống, dinh dưỡng vật nuôi, chăn nuôi thông minh, công nghệ giết mổ, chế biến, cũng như sản xuất vaccine và quản lý dịch bệnh đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giảm thiểu rủi ro cho toàn ngành. Đáng chú ý, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và công nghệ môi trường đang mở ra khả năng tối ưu hóa quản lý, truy xuất nguồn gốc và nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị.

Các định hướng lớn như Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đều xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính cho tăng trưởng theo chiều sâu. Đây vừa là cơ hội, vừa là áp lực để đội ngũ nhà khoa học, viện, trường và doanh nghiệp "vươn mình", làm chủ các công nghệ lõi như công nghệ gen, công nghệ tế bào – phôi và công nghệ vi sinh.

Theo ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, giai đoạn 2026–2030 được xác định là thời kỳ đột phá, với trọng tâm xây dựng các chương trình khoa học công nghệ mang tính chiến lược. Trong đó, ưu tiên ứng dụng công nghệ di truyền tiên tiến như chỉnh sửa gen, chọn giống theo hệ gen nhằm tạo ra các giống vật nuôi năng suất cao, kháng bệnh tốt.

Chuyển đổi số được xác định là một trụ cột quan trọng, với mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) ngành chăn nuôi, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán dịch bệnh và tự động hóa sản xuất. Trong lĩnh vực thú y, ngành hướng tới làm chủ các công nghệ nền tảng như Reverse Genetics, CRISPR và mRNA, phục vụ sản xuất vaccine trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu và từng bước xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao.

Song song đó, phát triển chăn nuôi tuần hoàn, giảm phát thải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) cũng là định hướng quan trọng thông qua nghiên cứu tái chế chất thải và phát triển phụ gia thức ăn giảm khí nhà kính.

Nhìn lại giai đoạn 2021–2025, ông Nguyễn Văn Long cho biết, ngành chăn nuôi và thú y đã có bước chuyển mạnh mẽ, từ thiếu hụt sang chủ động nguồn cung, từng bước tham gia thị trường xuất khẩu. Thành tựu này gắn liền với vai trò của khoa học công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực giống, dinh dưỡng, thú y và công nghệ môi trường.

Trong chọn tạo giống, nhiều công nghệ sinh học hiện đại như thụ tinh trong ống nghiệm, cấy truyền phôi, phân tích gen và chọn lọc di truyền đã được làm chủ. Đến nay, 47 giống vật nuôi mới được công nhận, nâng tổng số giống năng suất cao lên 59 giống, với một số sản phẩm đạt 90–95% năng suất so với thế giới. Nhờ đó, ngành đã cơ bản đáp ứng đủ, thậm chí dư thừa nguồn cung thực phẩm trong nước.

Lĩnh vực thú y cũng ghi nhận nhiều tiến bộ, đặc biệt trong nghiên cứu và sản xuất vaccine. Các công nghệ vaccine tái tổ hợp, vô hoạt và đa giá đã được làm chủ, với một số sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao, có thể thay thế hàng nhập khẩu. Bên cạnh đó, hơn 96% trang trại đã áp dụng các biện pháp xử lý môi trường, góp phần giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao tính bền vững.

Ứng dụng tự động hóa và chuyển đổi số trong quản lý trang trại, giám sát vật nuôi và truy xuất nguồn gốc tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực hội nhập của ngành.

Tại hội nghị, các tham luận tập trung vào những vấn đề cốt lõi như phát triển giống chất lượng cao, công nghệ thức ăn, phòng chống dịch bệnh, phát triển vaccine, kiểm soát kháng sinh và truy xuất nguồn gốc. Sáu phiên chuyên đề về lợn, gia cầm, gia súc nhai lại, sức khỏe vật nuôi, vaccine – sinh phẩm thú y, kháng kháng sinh và an toàn thực phẩm đã tạo diễn đàn trao đổi chuyên sâu giữa nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp.

Các đại biểu cũng chỉ ra nhiều "điểm nghẽn" của ngành, như liên kết giữa nghiên cứu và sản xuất còn hạn chế, năng lực thú y cơ sở chưa đồng đều, kiểm soát kháng sinh và truy xuất nguồn gốc vẫn là thách thức. Nhiều giải pháp công nghệ mới, mô hình hiệu quả đã được chia sẻ, góp phần định hình hướng phát triển bền vững cho ngành.

Bên lề hội nghị, khu trưng bày sản phẩm và công nghệ thu hút sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Đây không chỉ là nơi giới thiệu các thành tựu khoa học công nghệ mà còn đóng vai trò kết nối, thúc đẩy hợp tác, chuyển giao công nghệ giữa các bên.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục