Vật liệu xây dựng trước “mệnh lệnh xanh hóa”: Từ khai thác thô đến cuộc đua công nghệ

15:50' - 26/05/2026
BNEWS “Xanh hóa” ngành vật liệu xây dựng không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích hay để làm thương hiệu nữa. Đây đã trở thành mệnh lệnh cấp bách, quyết định sự sinh tồn của doanh nghiệp.

Tại buổi làm việc với Ban Chính sách và chiến lược Trung ương cùng một số bộ, ngành về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phát triển ngành vật liệu theo hướng “xanh, bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế”, đồng thời chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng trong nước. Đối với ngành vật liệu xây dựng vốn nhiều năm phát triển chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và cạnh tranh bằng chi phí thấp thì đây không chỉ là định hướng dài hạn mà là yêu cầu tái cấu trúc toàn diện.

Không thể tăng trưởng bằng khai thác tài nguyên

Giá cát, đá cùng nhiều loại vật liệu xây dựng liên tục lập đỉnh đang đặt các đại dự án hạ tầng trước nguy cơ trễ hẹn. Trong khi đó, "hàng rào" thuế carbon quốc tế bắt đầu siết chặt các ngành công nghiệp nặng như thép, xi măng.

 

Đứng trước “lưỡi dao kép” của khủng hoảng tài nguyên và áp lực giảm phát thải, chỉ đạo chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển công nghiệp vật liệu được xem là “mệnh lệnh” để tái cấu trúc toàn diện; chấm dứt kỷ nguyên khai thác thô để bước vào cuộc đua công nghệ và vật liệu xanh có giá trị gia tăng cao.

Năm 2026, đầu tư công tiếp tục đóng vai trò là "bánh đà" chính của nền kinh tế với hàng loạt siêu dự án cao tốc, sân bay quốc tế và các khu đô thị vệ tinh được kích hoạt đồng loạt. Thế nhưng, ngay trong quý I, thị trường đã phát đi những tín hiệu cảnh báo nghiêm trọng về nguồn cung.

Khảo sát thực tế cho thấy, giá cát tại nhiều địa phương tăng từ 30% đến 45% so với cùng kỳ (cá biệt có nơi chạm ngưỡng gần 1 triệu đồng/m3); nhựa đường tăng vọt gần 32%; cát đá thô tăng 13,5% - 23,3% và xi măng tăng hơn 7%.

Thế những, nỗi lo lớn nhất của các nhà thầu hiện nay không dừng lại ở câu chuyện chi phí, mà là rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng vật liệu.Ông Nguyễn Quốc Hiệp – Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu Xây dựng Việt Nam (VACC) nhận xét, các dự án hạ tầng quy mô lớn có biên độ nhạy cảm rất cao với tiến độ cung ứng vật liệu san lấp. Chỉ cần thiếu hụt nguồn cung trong vài tháng, toàn bộ tiến độ dự án sẽ bị kéo lùi, kích hoạt hiệu ứng domino tăng chi phí tài chính và đẩy giá thành xây dựng vượt kiểm soát.

Thậm chí, nhà thầu rất muốn dùng vật liệu xây dựng xanh nhưng nếu đơn giá vật liệu xanh cao hơn 15-20% mà không được ghi vốn rõ ràng trong hồ sơ thầu thì nhà thầu nào dùng vật liệu xanh sẽ tự loại mình khỏi cuộc chơi vì giá cao. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp mong muốn Chính phủ sớm ban hành đơn giá vật liệu xanh theo vùng để có cơ sở pháp lý thực hiện.

Dưới góc nhìn của các chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng giá và nguồn cung hiện tại chính là bằng chứng rõ nhất cho thấy mô hình tăng trưởng cũ — vốn dựa vào việc "đào tài nguyên lên bán" — đã chạm tới giới hạn sinh thái và kinh tế.

Dù thuộc nhóm quốc gia sản xuất xi măng lớn nhất thế giới, phần lớn sản phẩm của Việt Nam vẫn nằm ở phân khúc giá trị thấp. Nhiều dây chuyền thép, xi măng tiêu hao năng lượng lớn, phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch và phát thải cao.

Nhiều dây chuyền luyện thép, lò nung xi măng thế hệ cũ vẫn tiêu hao năng lượng lớn, phụ thuộc nặng nề vào nhiên liệu hóa thạch và có cường độ phát thải cao…

Thực trạng này phản ánh rõ giới hạn của mô hình tăng trưởng cũ: khai thác tài nguyên thô nhưng giá trị gia tăng thấp, công nghệ vật liệu chưa phát triển tương xứng.

"Xanh hóa" và tấm vé sinh tồn

Áp lực chuyển đổi của ngành vật liệu xây dựng không chỉ đến từ sự khan hiếm bên trong, mà còn từ các dòng chảy thương mại quốc tế. Bước sang năm 2026, các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam bắt đầu áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật về dấu chân carbon đối với thép và xi măng. Doanh nghiệp chậm chuyển đổi sẽ ngay lập tức bị loại khỏi cuộc chơi do phải gánh thêm các khoản chi phí thuế carbon đắt đỏ.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh khẳng định, là lĩnh vực tiêu hao nhiều tài nguyên và năng lượng nhất, “xanh hóa” ngành vật liệu xây dựng không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích hay để làm thương hiệu nữa. Đây đã trở thành mệnh lệnh cấp bách, quyết định sự sinh tồn của doanh nghiệp.

Thực tế, thị trường đã chứng kiến những làn sóng tự vệ đầu tiên từ các "sếu đầu đàn". Tuy nhiên, đứng ở góc độ người trong cuộc, cuộc đua này vô cùng khốc liệt và đầy rủi ro về mặt tài chính nếu thiếu đi bệ đỡ chính sách.

Lãnh đạo một đơn vị sản xuất xi măng lớn tại Việt Nam chia sẻ, doanh nghiệp đang đứng trước áp lực nghẹt thở từ Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của quốc tế. Nếu không “xanh hóa” sẽ mất thị trường xuất khẩu, nhưng nếu “xanh hóa” mà không có sự ưu tiên trong các dự án đầu tư công nội địa, doanh nghiệp sẽ hụt hơi về dòng tiền.

Bởi chi phí đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, tận dụng nhiệt dư phát điện là con số khổng lồ. Doanh nghiệp không sợ cạnh tranh sòng phẳng mà chỉ sợ sự thiếu đồng bộ trong việc định giá tài nguyên tự nhiên so với vật liệu tái chế, khiến vật liệu xanh bị lép vế ngay trên sân nhà.

Bức tranh tổng thể vẫn tồn tại những mảng xám do tốc độ chuyển đổi quá chậm so với yêu cầu thực tế. Việt Nam hiện có khoảng 2.900 cơ sở sản xuất vật liệu xây không nung với tổng công suất thiết kế 12,4 tỷ viên/năm, nhưng mức tiêu thụ thực tế mới đạt khoảng 6,7 tỷ viên.

Trong khi đó, lượng chất thải rắn xây dựng tại Việt Nam đã tăng lên khoảng 9,6 triệu tấn/năm, song phần lớn vẫn được chôn lấp. Chỉ khoảng 30-50% chất thải xây dựng và công nghiệp được tái chế, thấp hơn đáng kể so với mức phổ biến 70-90% tại các quốc gia tiên tiến ở châu Á.

Gỡ "nút thắt" cơ chế thị và hệ thống tiêu chuẩn

Theo các chuyên gia, nút thắt lớn nhất kìm hãm cuộc “cách mạng xanh” này không nằm ở giới hạn công nghệ, mà nằm ở cơ chế thị trường và hệ thống tiêu chuẩn pháp lý.

Nhiều loại vật liệu tuần hoàn, dù đạt đầy đủ các chỉ số kỹ thuật, vẫn bị gạt ra rìa các dự án đầu tư công do thiếu bộ định mức kinh tế - kỹ thuật từ các bộ ngành liên quan để làm cơ sở đấu thầu.

Ông Lê Trung Thành – Nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng từng chia sẻ, ngành vật liệu cần một tư duy quản lý đồng bộ hơn. Phải thiết lập được các công cụ chính sách đủ mạnh để vừa đảm bảo nguồn cung cho hạ tầng trước mắt, vừa tạo ra động lực kinh tế đủ hấp dẫn để doanh nghiệp dấn thân vào lộ trình giảm phát thải.

Để giải quyết tận gốc rễ rào cản này, nhiều chuyên gia đồng tình với việc  cần những thay đổi mang tính cách mạng trong tư duy quản lý hành chính và định giá kinh tế. Bởi “nút thắt” lớn nhất hiện nay là đang dùng bộ quy tắc của quá khứ để quản lý vật liệu của tương lai. Hiện Bộ Xây dựng đang ưu tiên hoàn thiện hệ thống định mức cho vật liệu tái chế.

Hay có chuyên gia hiến kế, cần chấm dứt khái niệm “vật liệu rẻ”. Bởi đơn cử như cát sông rẻ là vì chưa tính chi phí sạt lở bờ sông vào giá bán. Do đó, phải áp thuế tài nguyên lũy tiến thật mạnh vào khai thác thô. Khi vật liệu truyền thống “gánh” đúng chi phí môi trường thì vật liệu xanh sẽ tự khắc có lợi thế cạnh tranh.

Tại Nhật Bản hay Singapore, tro xỉ được coi là “vàng đen”, còn ở Việt Nam vẫn bị ứng xử như rác thải. Điều này cho thấy đang lãng phí nguồn tài nguyên khổng lồ từ rác thải xây dựng và tro xỉ.

Việt Nam cần các trung tâm nghiên cứu và phát triển đủ mạnh để biến rác thải công nghiệp thành vật liệu công nghệ cao, thay vì chỉ dừng lại ở việc làm gạch không nung đơn thuần…

Bên cạnh cuộc cách mạng công nghệ, bài toán quản trị ngắn hạn cũng được tháo gỡ khi Chính phủ yêu cầu minh bạch hóa dữ liệu giá và tăng cường điều phối vật liệu liên vùng.

Việc xóa bỏ tình trạng "sốt giá cục bộ" và tối ưu hóa chi phí logistics -vốn chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành vật liệu xây dựng sẽ là bước đệm cần thiết để ngành vượt qua giai đoạn chuyển giao này.

Từ những câu chuyện thực tế này, các chuyên gia cho rằng, tầm nhìn về vật liệu tương lai chính là “chìa khóa”. Bởi sau nhiều thập kỷ tăng trưởng dựa vào sự ưu đãi của tự nhiên, ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đã đi tới điểm cuối của mô hình cũ.

Trong cuộc đua công nghệ và "mệnh lệnh xanh" của năm 2026, lợi thế cạnh tranh dài hạn sẽ không còn thuộc về những doanh nghiệp sở hữu nhiều mỏ tài nguyên hơn mà thuộc về những cái tên sở hữu công nghệ sạch hơn, giảm dấu chân carbon nhanh hơn và tạo ra giá trị cao nhất trên mỗi đơn vị tài nguyên được khai thác.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục