Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Tăng liên kết, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa

  • Ngọc Quỳnh/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Sau gần bốn thập kỷ mở cửa, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Tuy nhiên, mối liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước chủ yếu tham gia các công đoạn gia công, lắp ráp, trong khi khả năng cung ứng linh kiện, phát triển công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị còn chưa tương xứng với tiềm năng.

Toyota Việt Nam trưng bày, giới thiệu Không gian triển lãm "Hành trình 30 năm phát triển nội địa hóa và công nghiệp hỗ trợ" tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu có nhiều thay đổi, cùng với yêu cầu gày càng cao về tiêu chuẩn môi trường và ứng dụng công nghệ số, phát triển công nghiệp hỗ trợ trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp giữa chính sách của Nhà nước, vai trò của các tập đoàn đa quốc gia và nỗ lực nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam. 

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, cho biết trong thời gian dài, Việt Nam chú trọng thu hút vốn FDI nhưng khả năng tiếp nhận, làm chủ và lan tỏa công nghệ trong nền kinh tế vẫn còn những hạn chế.

Dù thuộc nhóm quốc gia thu hút FDI đáng chú ý trong khu vực, tỷ lệ nội địa hóa trong chuỗi sản xuất của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam mới đạt khoảng 20-25%. Hoạt động chuyển giao công nghệ phần lớn vẫn tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật trong nội bộ doanh nghiệp, chưa tạo được tác động lan tỏa đủ lớn để nhiều doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao. 

Theo bà Bùi Thu Thủy, định hướng tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước đang được đề cập trong dự thảo sửa đổi Luật Đầu tư. Theo đó, cơ quan quản lý dự kiến nghiên cứu các cơ chế ưu đãi phù hợp với thông lệ quốc tế dành cho những dự án có cam kết chuyển giao công nghệ, hỗ trợ phát triển nhà cung ứng trong nước.

Cùng với đó, công tác quản lý được định hướng tăng cường theo hướng đánh giá kết quả thực hiện cam kết trong quá trình triển khai dự án, qua đó nâng cao hiệu quả của chính sách ưu đãi và thúc đẩy đóng góp thực chất của khu vực FDI đối với nền kinh tế. 

Ở góc độ doanh nghiệp, Samsung Việt Nam đang triển khai các chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Ông Cha Ji Ho, Phó Tổng giám đốc phụ trách Trung tâm Mua hàng Samsung Việt Nam, cho biết bên cạnh việc cải thiện nền tảng sản xuất, Samsung đang mở rộng các chương trình tư vấn về nhà máy thông minh và khuôn mẫu thông minh tại nhiều địa bàn công nghiệp, trong đó có Phú Thọ, Hải Phòng và Thái Nguyên, bên cạnh các địa phương đã triển khai trước đó như Bắc Ninh và TP. Hồ Chí Minh. 

Theo ông Cha Ji Ho, các chương trình không chỉ hướng đến cải thiện máy móc, thiết bị và quy trình sản xuất mà còn chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia tại doanh nghiệp đối tác Việt Nam. Việc xây dựng năng lực chuyên môn và khả năng tự duy trì hoạt động cải tiến được xem là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất, đáp ứng yêu cầu của các đối tác và duy trì khả năng tham gia chuỗi cung ứng trong dài hạn. 

Bên cạnh công nghệ và thiết bị, chất lượng nguồn nhân lực và việc duy trì các tiêu chuẩn sản xuất cũng là những vấn đề cần được quan tâm.

Tiến sĩ Jackson Woo, Tổng Giám đốc SGS Việt Nam, cho rằng doanh nghiệp trong nước vẫn có thể gặp khó khăn ngay cả sau khi được đào tạo và đáp ứng các chứng nhận quốc tế. Biến động nhân sự và việc duy trì năng lực chuyên môn có thể ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm chất lượng ổn định, từ đó tác động đến cơ hội hợp tác với các nhà mua hàng toàn cầu.

Thực tế này cho thấy phát triển công nghiệp hỗ trợ không chỉ phụ thuộc vào đầu tư nhà xưởng và công nghệ mà còn cần hệ thống hỗ trợ đồng bộ. Trong đó, các chính sách tài chính phù hợp, thủ tục nhập khẩu máy móc và công nghệ thuận lợi hơn, cùng sự phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất. 

Từ thực tiễn trên, nhiều ý kiến cho rằng việc nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ trong thập niên tới cần được triển khai đồng bộ trên các phương diện: hoàn thiện chính sách theo hướng minh bạch, ổn định và có trọng tâm, gắn các cơ chế ưu đãi với hiệu quả thực hiện cam kết của doanh nghiệp; khuyến khích các tập đoàn đa quốc gia tăng cường phát triển nhà cung ứng tại Việt Nam, mở rộng hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm quản trị sản xuất; doanh nghiệp trong nước cần chủ động đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng nhân lực, hoàn thiện hệ thống quản trị và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, việc tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng không chỉ phụ thuộc vào khả năng tiếp cận đơn hàng mà còn đòi hỏi năng lực đáp ứng ổn định về chất lượng, tiến độ, chi phí và các yêu cầu kỹ thuật. Do đó, cùng với hỗ trợ từ chính sách và đối tác, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch đầu tư phù hợp với năng lực tài chính, từng bước nâng cấp quy trình sản xuất và phát triển đội ngũ nhân sự có chuyên môn.

Ngọc Quỳnh/Bnews/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục