BNEWS Đến thời điểm này, giá trị xuất khẩu lâm sản ước đạt 9,041 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ 2018. Xuất siêu lâm sản đạt 6,955 tỷ USD.
Ngày 29/10, chia sẻ với báo chí ông Nguyễn Quốc Trị, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, năm 2019, ngành lâm nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao xuất khẩu lâm sản đạt 10,5 tỷ USD.
Đến thời điểm này, giá trị xuất khẩu lâm sản ước đạt 9,041 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ 2018. Xuất siêu lâm sản đạt 6,955 tỷ USD. Đặc biệt, từ đầu năm đến nay lần đầu tiên trong tháng 10 có giá trị xuất khẩu lâm sản đạt trên 1 tỷ USD.
Trong 2 tháng còn lại của năm, các hợp đồng xuất khẩu của 2019 đã hoàn tất. Cùng với số liệu thống kê của nhiều năm, đây cũng là thời điểm có giá trị xuất khẩu lâm sản đạt cao nhất.Đối với các nước, đây là thời điểm nhập khẩu nhiều sản phẩm nội thất ngoài trời và trong nhà. Đây là những cơ sở để ngành có thể khẳng định năm 2019 kim ngạch xuất khẩu lâm sản có thể đạt 11 tỷ USD.
“Đây là con số rất ý với ngành lâm nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển các lĩnh vực khác có liên quan như: bảo vệ rừng, trồng rừng, chế biến, phát triển thị trường…”, ông Nguyễn Quốc Trị nhấn mạnh. Các sản phẩm lâm sản Việt Nam hiện được xuất khẩu sang hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các thị trường xuất khẩu lâm sản chính của Việt Nam, gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU và Hàn Quốc, tổng giá trị xuất khẩu sang các thị trường này ước đạt 7,81 tỷ USD, chiếm khoảng 86,6% tổng giá trị xuất khẩu lâm sản. Về nguồn nguyên liệu gỗ cho chế biến xuất khẩu, lũy kế 10 tháng năm 2019, khai thác rừng trồng tập trung khoảng 175.000 ha, sản lượng tương ứng là 16,55 triệu m3, đạt 85% kế hoạch năm 2019, tăng gần 7% so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, khai thác gỗ cao su thanh lý và cây phân tán ước đạt sản lượng khoảng 8,3 triệu m3; trong đó sản lượng khai thác gỗ cao su thanh lý khoảng 4,3 triệu m3. Những nguồn nguyên liệu từ rừng trồng đã đáp ứng khoảng 75% nhu cầu nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu.Về tỷ lệ che phủ rừng, ông Nguyễn Quốc Trị cho biết, năm 2019 ngành được giao tăng 0,2% so với năm 2018, đạt 41,85%, tương đương diện tích rừng phải tăng thêm 66.000 ha so với năm 2018. Đây cũng là mục tiêu mà ngành dự kiến sẽ hoàn thành.
Theo ông Nguyễn Quốc Trị, để diện tích rừng được công nhận đủ điều kiện che phủ rừng, đối với rừng trồng trên 3 năm; rừng khoanh nuôi tái sinh trên 5 năm...Thực tế năm 2016, diện tích trồng rừng đạt 34.000 ha; trong đó 15.000 rừng trồng bằng ngân sách nhà nước, trên 18.000 ha trồng rừng thay thế; cùng với đó là trên 38.000 ha rừng được khoanh nuôi tái sinh từ năm 2014. Đến nay, cả nước có khoảng trên 90.000 ha đạt tỷ lệ công nhận che phủ rừng.
Tuy nhiên, năm 2019 mặc dù tình trạng cháy rừng có tăng, với diện tích thiệt hại trên 1.900 ha. Với những con số trên có thể khẳng định năm 2019, tỷ lệ che phủ rừng sẽ tăng thêm 0,2%. Theo Tổng cục Lâm nghiệp, trong 10 tháng, trồng rừng tập trung cả nước được trên 175.500 ha, đạt 82,7% kế hoạch năm; bằng 98,8% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng trên 7.000 ha, rừng sản xuất trên 168.000 ha. Cả nước cũng đã trồng cây phân tán đạt 47,8 triệu cây các loại, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2018. Kết quả thực hiện phát triển rừng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018, do nắng nóng và một số tỉnh đang trong mùa vụ trồng rừng. Về bảo vệ rừng, đến nay cả nước đã phát hiện 9.214 vụ vi phạm các quy định của Luật Lâm nghiệp, giảm 1.673 vụ (-15%) so với cùng kỳ năm ngoái; diện tích bị thiệt hại do phá là 508 ha, giảm 6 ha (-1%). Năm nay, thời tiết nắng nóng bất thường kèm theo hanh khô, hạn hán kéo dài xảy ra ở nhiều khu vực trên toàn quốc, đặc biệt tại khu vực Tây Bắc, miền Trung dẫn đến xảy ra 271 vụ cháy rừng, tăng 103 vụ so với cùng kỳ năm 2018. Diện tích rừng bị thiệt hại do cháy 1.951 ha, tăng 1.594 ha so với cùng kỳ năm 2018./.Tin liên quan
Tổng kết việc sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp
Mô hình sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp đang được triển khai và có những kết quả tích cực.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamTập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất sầu riêng
Văn phòng Chính phủ có văn bản số 421/TB-VPCP thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.
-
Kinh tế Việt NamCần hành trang pháp lý khi sáng tạo nội dung trên không gian số
Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, hoạt động sáng tạo nội dung đang mở ra cơ hội lớn cho KOC, KOL, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về hiểu biết và tuân thủ pháp luật.
-
Kinh tế Việt NamĐà Nẵng xây dựng năng lực xuất khẩu trực tuyến
Đà Nẵng xây dựng năng lực xuất khẩu trực tuyến
-
Kinh tế Việt NamCần Thơ khẩn cấp ứng phó sạt lở
Sạt lở bờ sông, kênh rạch và bờ biển diễn biến phức tạp, xuất hiện cả mùa mưa lẫn mùa khô, đe dọa trực tiếp tính mạng, tài sản, giao thông và các công trình thiết yếu.
-
Kinh tế Việt NamKết nối đa phương thức, tạo động lực mới cho hạ tầng giao thông Việt Nam
Khi hạ tầng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, những công trình được quyết định hôm nay sẽ định hình đất nước trong nhiều thập niên tới.
-
Kinh tế Việt NamKiểm soát chặt phát thải mê-tan ngay từ kho cảng nhập khẩu
Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) đang được xem là một trong những nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng trong lộ trình giảm phát thải khí nhà kính của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
-
Kinh tế Việt NamNghị quyết số 10-NQ/TW: Động lực 'hút' FDI vào kinh tế xanh
Cùng với thay đổi từ phía doanh nghiệp, mô hình các khu công nghiệp cũng đang dịch chuyển theo hướng sinh thái. Đây được xem là một yếu tố quan trọng để đáp ứng nhu cầu của thế hệ nhà đầu tư mới.
-
Kinh tế Việt NamCần Thơ báo động sạt lở, công bố tình huống khẩn cấp ở 4 xã, phường
UBND thành phố Cần Thơ vừa công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai, sự cố sạt lở nguy hiểm tại nhiều khu vực bờ sông, bờ kênh và bờ biển.
-
Kinh tế Việt NamTăng tốc thu hút khách quốc tế đến Việt Nam
Tăng trưởng du lịch trong giai đoạn mới không thể chỉ đo bằng số lượng khách mà cần quan tâm đến chất lượng dòng khách, thời gian lưu trú, mức chi tiêu, khả năng quay trở lại.












