BNEWS Với khoảng 2,5 triệu ha, cây keo là nguồn nguyên liệu chủ lực của ngành gỗ. Bài toán đặt ra là nâng chất lượng rừng, phát triển gỗ lớn, giảm dăm gỗ và gia tăng giá trị cho mỗi hecta rừng.
Ngày 8/10, tại Hà Nội, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) cùng các đối tác quốc tế tổ chức Diễn đàn “Rừng trồng keo bền vững hướng tới ngành gỗ giá trị cao”.
Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cho biết, sau hơn ba thập kỷ phát triển, lâm nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Đặc biệt, rừng trồng ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu và tạo sinh kế cho người dân.
Cây keo chiếm vị trí đặc biệt với khoảng 2,5 triệu ha, chiếm khoảng 60% diện tích rừng trồng sản xuất của Việt Nam, đồng thời là nguồn nguyên liệu chủ lực của ngành chế biến gỗ. Cây keo cũng gắn với sinh kế của khoảng 1,5 triệu hộ gia đình, phần lớn là các hộ có quy mô rừng nhỏ. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị, hiệu quả từ rừng keo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Khoảng 80% sản lượng gỗ keo hiện được sử dụng để sản xuất dăm gỗ và viên nén, những sản phẩm có giá trị gia tăng chưa cao. Trong khi đó, tỷ lệ gỗ lớn phục vụ sản xuất đồ mộc, sản phẩm chế biến sâu và các phân khúc giá trị cao còn hạn chế. “Phát triển rừng trồng keo phải có sự chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy, từ chú trọng mở rộng diện tích và sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, sức chống chịu và tính bền vững”, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị nhấn mạnh. Theo đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành nền tảng để nâng cao giá trị rừng trồng keo. Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục ưu tiên nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống có năng suất, chất lượng gỗ và khả năng chống chịu tốt; hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc và chuyển hóa rừng sản xuất gỗ lớn. Cùng với đó là đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nhất là cho các chủ rừng nhỏ; nâng cao năng lực quản lý, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ quy định về gỗ hợp pháp; phát triển chứng chỉ quản lý rừng bền vững và tăng cường liên kết giữa vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến.Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch VIFOREST, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có diện tích keo lớn trên thế giới, trong đó khoảng 80% diện tích do các hộ gia đình quản lý. Vì vậy, câu chuyện về cây keo không chỉ liên quan đến lâm nghiệp mà còn trực tiếp gắn với sinh kế của hàng triệu người dân, nguồn nguyên liệu của ngành chế biến gỗ và năng lực cạnh tranh của ngành gỗ, nội thất Việt Nam.
Ông Nguyễn Quốc Khanh cho rằng, Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý: có nguồn tài nguyên rừng trồng lớn nhưng giá trị tạo ra chưa tương xứng. Vì vậy, câu hỏi không chỉ là làm thế nào để trồng được cây keo mà quan trọng hơn là làm thế nào để mỗi hecta rừng và mỗi mét khối gỗ keo tạo ra nhiều giá trị hơn, theo hướng bền vững. Muốn người trồng rừng kéo dài chu kỳ để tạo gỗ lớn, theo ông Khanh, không thể chỉ vận động người dân chờ thêm vài năm mà phải tạo ra một mô hình kinh tế đủ hấp dẫn để họ có thể chờ. Điều này đòi hỏi tín dụng phù hợp với chu kỳ dài của cây trồng, bảo hiểm rừng, liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp và chủ rừng, chứng chỉ rừng, cơ chế carbon và quan trọng nhất là thị trường trả giá xứng đáng cho gỗ lớn. “Giá trị cao nhất của cây keo không được tạo ra ở trên khu rừng, mà được tạo ra ở cuối chuỗi cung ứng”, ông Nguyễn Quốc Khanh nhấn mạnh, đồng thời cho rằng chiến lược phát triển cây keo cần kết nối thông suốt từ giống, trồng rừng, chế biến, vật liệu, thiết kế, sản xuất đến thương hiệu và marketing. Theo đó, cần chuyển dịch mạnh hơn từ dăm gỗ sang veneer, plywood, MDF, particle board, gỗ kỹ thuật, gỗ ghép... và các sản phẩm nội thất có hàm lượng thiết kế cao. Khi kết nối được khoa học, rừng, vật liệu, chế biến, thiết kế, thị trường và các yêu cầu về phát triển bền vững, cây keo có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ và nội thất Việt Nam.Từ góc độ nghiên cứu, ông Trần Lâm Đồng, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cho biết, rừng keo đang đối mặt với nhiều thách thức như sâu bệnh, biến đổi khí hậu, suy thoái đất và rủi ro thiên tai.
Theo các nghiên cứu, nhiều loại sâu bệnh hại lá, bệnh mục thân, chết héo, đốm lá đang xuất hiện với tần suất và mức độ gây hại gia tăng. Các giải pháp chọn giống kháng bệnh kết hợp kỹ thuật lâm sinh có thể giúp giảm đáng kể thiệt hại. Vì vậy, việc thương mại hóa các dòng giống chống chịu bệnh và phát triển các biện pháp phòng trừ sinh học cần được đẩy mạnh. Bên cạnh giống, kỹ thuật canh tác cũng cần được cải thiện. Một vấn đề khác là rủi ro và chi phí đầu tư khiến nhiều hộ chưa mạnh dạn chuyển sang trồng rừng gỗ lớn. Người dân ngày càng nhận thức rõ hơn lợi ích lâu dài của gỗ lớn nhưng vẫn lo ngại thiên tai. Do đó, các chính sách về bảo hiểm rừng trồng và hỗ trợ tài chính được xem là cần thiết để người dân yên tâm kéo dài chu kỳ rừng. Từ thực tiễn nghiên cứu và sản xuất, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam xác định sáu hướng ưu tiên gồm: chọn tạo giống kháng bệnh, chịu hạn và gió bão; đa dạng hóa loài cây phù hợp từng vùng sinh thái; hoàn thiện kỹ thuật lâm sinh và thâm canh rừng gỗ lớn; phát triển giải pháp phòng trừ sâu bệnh bằng sinh học; nghiên cứu công nghệ chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và kéo dài chuỗi giá trị; đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng sản xuất bền vững./. Bích HồngTin liên quan
Ngành gỗ tìm động lực tăng trưởng từ thị trường trong nước
Với quy mô hơn 100 triệu người tiêu dùng và nhu cầu ngày càng tăng đối với nhà ở, xây dựng, nội thất và không gian sống, thị trường trong nước đang mở ra dư địa lớn cho ngành gỗ Việt Nam.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế xã hộiKinh tế Hà Nội tăng tốc hướng tới tăng trưởng hai con số
Hà Nội đặt mục tiêu tăng tốc trong quý IV/2026, phát huy các động lực từ đầu tư công, dịch vụ, thương mại, công nghiệp và hạ tầng, hướng tới hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số.
-
Kinh tế xã hộiAn Giang yêu cầu dự án phục vụ APEC 2027 phải có phương án bù tiến độ
An Giang yêu cầu các dự án phục vụ APEC 2027 khẩn trương tháo gỡ vướng mắc, công trình chậm tiến độ phải có phương án bù cụ thể, không để ảnh hưởng kế hoạch chung.
-
Kinh tế xã hộiĐất có sổ hàng chục năm, bỗng “lọt” vào hành lang bảo vệ hồ Suối Giai
Nhiều hộ dân có đất, nhà ở được cấp giấy chứng nhận từ nhiều năm trước tại hồ Suối Giai, Đồng Nai gặp vướng mắc tách thửa, thế chấp sau khi cắm mốc phạm vi bảo vệ công trình.
-
Kinh tế xã hộiÔng Trần Văn Phúc giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Bộ Chính trị chuẩn y đồng chí Trần Văn Phúc, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031.
-
Kinh tế xã hộiLâm Đồng gỡ vướng cho 14 dự án năng lượng tái tạo
Ngày 8/10, ông Nguyễn Hồng Hải, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết đã chỉ đạo các đơn vị liên quan tăng cường phối hợp tháo gỡ khó khăn cho các dự án năng lượng trên địa bàn tỉnh.
-
Kinh tế xã hộiGia Lai đầu tư 900 tỷ đồng cải tạo nút giao cửa ngõ Quy Nhơn
Gia Lai đầu tư 900 tỷ đồng cải tạo nút giao Đống Đa - Hoa Lư, xây cầu vượt và tổ chức lại giao thông, nhằm giảm ùn tắc, tăng kết nối và hoàn thiện hạ tầng đô thị Quy Nhơn.
-
Kinh tế xã hộiQuảng Trị chấm dứt dự án của Tập đoàn FLC 371 tỷ đồng
Quảng Trị chấm dứt hoạt động dự án nông nghiệp công nghệ cao FAM thuộc Tập đoàn FLC vốn 371 tỷ đồng do chậm triển khai nhiều năm, chưa hoàn tất các thủ tục và không đáp ứng điều kiện gia hạn tiến độ.
-
Kinh tế xã hộiGỡ nút thắt tự chủ thu - chi tại y tế cơ sở ở Huế
Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính được kỳ vọng giúp các đơn vị sự nghiệp y tế công lập chủ động hơn trong hoạt động, sử dụng hiệu quả nguồn lực và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
-
Kinh tế xã hộiLào Cai triển khai định danh địa điểm trên toàn tỉnh
Việc triển khai nhằm xây dựng, chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu định danh địa điểm vào Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm quốc gia, bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ, thống nhất và cập nhật thường xuyên.













