BNEWS Từ khi Việt Nam mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ngành công nghiệp hỗ trợ - vốn là xương sống của mọi nền sản xuất hiện đại, luôn là một mảnh ghép quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội.
Qua từng bước đi, từng nỗ lực của các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ trong suốt 20 năm qua, rất nhiều doanh nhân bày tỏ quan điểm, hiện tại đang là thời điểm vàng cho sự bứt phá khi các "đại bàng" toàn cầu, khái niệm để chỉ các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, đang ráo riết tìm kiếm "bạn hàng" tin cậy cho chuỗi cung ứng của mình.
Theo số liệu từ Bộ Công Thương, ngành công nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, không thể phủ nhận. Số lượng doanh nghiệp tăng lên, năng lực sản xuất được cải thiện và một số lĩnh vực đã bắt đầu tạo được dấu ấn. Đến nay, Việt Nam có khoảng hơn 40.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, chiếm gần 10% tổng số doanh nghiệp công nghiệp. Tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành như ô tô, điện tử đã có sự nhích lên, dù còn khiêm tốn. Sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Canon, Intel, Bosch... đã tạo ra một lực đẩy mạnh mẽ. Họ không chỉ mang vốn đầu tư, công nghệ mà còn đặt ra những yêu cầu khắt khe về chất lượng, tiêu chuẩn quản lý, buộc các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phải tự nâng cấp. Nhiều doanh nghiệp Việt đã mạnh dạn đầu tư vào máy móc hiện đại, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế (ISO, IATF) và dần trở thành nhà cung cấp cấp 2, cấp 3 trong chuỗi cung ứng của các "ông lớn". Những câu chuyện về các doanh nghiệp Việt Nam ban đầu chỉ sản xuất bao bì, linh kiện nhựa đơn giản, nay đã có thể cung cấp các chi tiết cơ khí chính xác, khuôn mẫu phức tạp cho các tập đoàn toàn cầu không còn là điều hiếm gặp. Đó là những minh chứng sống động cho tinh thần thép và khả năng thích nghi của doanh nghiệp Việt. Ông Phan Đăng Tuất, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) cho hay, dù số lượng doanh nghiệp đông đảo, nhưng quy mô của đa phần doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ vẫn là nhỏ và siêu nhỏ, với tiềm lực tài chính hạn chế, công nghệ lạc hậu và năng lực quản lý yếu kém. Điều này khiến họ khó có thể đáp ứng các đơn hàng lớn, yêu cầu chất lượng cao và thời gian giao hàng nghiêm ngặt từ các tập đoàn đa quốc gia. Qua nhiều cuộc khảo sát về công nghệ và năng lực sản xuất do các tổ chức tài chính độc lập thực hiện cho thấy, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn đang sử dụng công nghệ ở mức trung bình hoặc thấp. Việc đầu tư vào nghiên cứu phát triển (R&D) còn yếu, khiến sản phẩm thiếu tính đột phá và khả năng cạnh tranh. Về cơ bản, chủ yếu vẫn gia công, lắp ráp, chưa thực sự tham gia vào khâu thiết kế, chế tạo sản phẩm cốt lõi. Thêm vào đó là sự hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật cao, có tay nghề giỏi và khả năng làm việc với công nghệ hiện đại là một rào cản lớn. Việc đào tạo chưa theo kịp nhu cầu thị trường, dẫn đến khoảng cách giữa cung và cầu lao động. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng sự liên kết giữa doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam và các tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn còn lỏng lẻo. Các doanh nghiệp Việt thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, yêu cầu kỹ thuật và quy trình đánh giá nhà cung cấp của các tập đoàn đa quốc gia. Trong khi đó, các tập đoàn đa quốc gia lại gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhà cung cấp đủ tiêu chuẩn tại Việt Nam, buộc họ phải nhập khẩu phần lớn linh kiện từ nước ngoài. Tỷ lệ nội địa hóa trung bình vẫn ở mức thấp, khoảng 20-30% ở hầu hết các ngành. Ông Nguyễn Đức Trung, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Cơ khí chính xác HBT Việt Nam cho hay, trước làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu do những quan ngại về tình hình địa chính trị, căng thẳng thương mại giữa các quốc gia, Việt Nam, với vị trí địa lý chiến lược, môi trường đầu tư ổn định và các hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng khắp, trở thành điểm đến lý tưởng cho các tập đoàn toàn cầu. Điều này mở ra cơ hội cực lớn để các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam "chen chân" sâu hơn vào chuỗi giá trị. Các đối tác quốc tế không chỉ tìm kiếm nơi sản xuất chi phí thấp, mà còn ưu tiên sự ổn định, khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng và sự sẵn có của các nhà cung cấp nội địa. Chính phủ cũng đã nhận diện rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ và ban hành nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ. Từ các nghị định khuyến khích đầu tư, ưu đãi thuế, đến các chương trình hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ. Điển hình là Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; trong đó đề cao công nghiệp hỗ trợ trở thành một ngành ưu tiên. Điều này tạo ra một hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để ngành phát triển. Nhiều triển lãm giao thương quốc tế đã và đang được tổ chức ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước như Triển lãm Giao thương quốc tế FBC ASEAN 2025 ở Hà Nội, Chuỗi Triển lãm công nghiệp và sản xuất Việt Nam (VIMF) ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Bình Dương... là minh chứng rõ nét cho tinh thần này, nơi họ chủ động tìm kiếm cơ hội, tiếp cận công nghệ mới và xây dựng mối quan hệ đối tác. Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam đã ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) đã và đang mở ra cánh cửa rộng lớn đưa hàng hóa đến các thị trường trọng điểm. Vì lẽ đó, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cần chủ động tìm hiểu và tận dụng các quy tắc xuất xứ, ưu đãi thuế quan để gia tăng lợi thế cạnh tranh khi xuất khẩu sản phẩm. Đồng thời, chính sách đối ngoại mở rộng sẽ tiếp tục thu hút FDI chất lượng cao, mang theo nhu cầu về công nghiệp hỗ trợ. Hành trình "tìm kiếm bạn hàng trong hội nhập" của ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam không phải là một con đường trải đầy hoa hồng, nên sẽ có nhiều chông gai, thách thức cần vượt qua. Lúc này và hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ cần tinh thần kiên cường, ý chí vươn lên và sự hỗ trợ từ Chính phủ và các đối tác sẽ là nền tảng đưa ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam có bước chuyển mình trở thành một "mắt xích vàng" không thể thiếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu.Tin liên quan
Trồng trọt sẽ giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2035
Trong giai đoạn 2025 – 2035, ngành trồng trọt sẽ tập trung vào một số cây trồng chủ lực, có tiềm năng giảm phát thải cao như lúa, sắn, mía, cà phê, chuối…
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamĐiểm tin kinh tế Việt Nam nổi bật ngày 14/8/2026
Kinh tế Việt Nam ngày 14/8 nổi bật với các dự án đầu tư lớn, thúc đẩy kinh tế số, năng lượng tái tạo, hạ tầng giao thông và phát triển bền vững.
-
Kinh tế Việt NamỦy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị giữ quy định hiện hành về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đồng thời chỉ sửa một số điều của Luật Quản lý thuế để tránh chồng chéo.
-
Kinh tế Việt NamNăng suất là trung tâm trong quá trình tái định hình mô hình tăng trưởng
Diễn đàn Năng suất chất lượng quốc gia 2026 nhấn mạnh nâng năng suất dựa trên khoa học, công nghệ, AI, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh để tạo động lực tăng trưởng mới.
-
Kinh tế Việt NamKhu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi thu hút vốn đăng ký khoảng 19,4 tỷ USD
Sau 30 năm phát triển, Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi đứng trước yêu cầu chuyển đổi xanh, số hóa, nâng chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh.
-
Kinh tế Việt NamQuảng Ninh đề xuất bổ sung 8 dự án điện mặt trời vào quy hoạch điện quốc gia
Quảng Ninh nghiên cứu bổ sung 8 dự án điện mặt trời vào Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, với tổng công suất dự kiến 2.199-2.399 MW, hướng tới trở thành trung tâm năng lượng lớn phía Bắc.
-
Kinh tế Việt NamPhiên họp thứ 5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Tập trung hoàn thiện các quy định trong dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi)
Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành nội dung tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), yêu cầu tiếp tục rà soát, hoàn thiện để bảo đảm tính khả thi.
-
Kinh tế Việt NamChính thức thu phí 5 dự án thành phần cao tốc Quảng Ngãi - Nha Trang
Hệ thống thiết bị phục vụ thu phí được kiểm tra, vận hành thử; đường truyền, hệ thống nhận diện và các điều kiện kỹ thuật được rà soát nhằm bảo đảm hoạt động ổn định khi chính thức thu phí.
-
Kinh tế Việt NamBức tranh doanh nghiệp khởi sắc, đà tăng trưởng được củng cố
Cộng đồng doanh nghiệp tâm lý khá lạc quan khi bước vào quý III, có 83,4% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh sẽ tốt hơn hoặc giữ ổn định, trong khi tỷ lệ dự báo khó khăn chỉ còn 16,6%.
-
Kinh tế Việt NamCà Mau bứt phá năng lượng xanh: Mục tiêu thành trạm phát của ĐBSCL
Tỉnh Cà Mau phấn đấu đến năm 2030, phát triển các nguồn năng lượng tái tạo tiềm năng nhằm thu hút đầu tư bảo đảm an ninh, hướng tới trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của khu vực ĐBSCL.












