Góc nhìn toàn cảnh về tương lai ngành dầu mỏ (Phần 2)

05:00' - 23/05/2020
BNEWS Bối cảnh chính trị của ngành dầu khí cũng kém ổn định trong bối cảnh các nhà đầu tư đã "quay lưng" với lĩnh vực "vàng đen" ngay cả trước khi đại dịch xảy ra.
Một cơ sở lọc dầu của công ty dầu khí Shell ở đảo Bukom, ngoài khơi Singapore. Ảnh: AFP/TTXVN

Phản ứng ban đầu của Saudi Arabia đối với tình hình tiêu thụ dầu mỏ suy giảm là khởi động một cuộc chiến giá dầu với Nga, nâng sản lượng dầu mỏ lên mức tối đa, một phần trong nỗ lực để bù đắp doanh thu bị mất do giá giảm.

Mặc dù, với sự thuyết phục của Tổng thống Mỹ Donald Trump, Saudi Arabia đã quay trở lại với phương án hạn chế sản lượng, nhưng các nhà phân tích cho rằng đây có thể là chỉ dấu báo hiệu rằng nhu cầu không sớm thì muộn sẽ đạt đỉnh. Đối với Saudi Arabia, nước có trữ lượng dầu trong lòng đất có thể khai thác trong 75 năm, cách tiếp cận hợp lý nhất có thể là bơm càng nhiều dầu càng tốt.

Jeffrey Auld, Giám đốc điều hành của Serinus Energy, một nhà sản xuất dầu mỏ và khí đốt nhỏ ở Romania và Tunisia, cho biết ông hy vọng rủi ro chính trị sẽ thúc đẩy các công ty lớn hơn hướng sự chú ý nhiều vào khí đốt ít gây ô nhiễm, nếu không phải là năng lượng tái tạo.

Sam Laidlaw, cựu Giám đốc của Centrica, hiện đang điều hành công ty cổ phần tư nhân Neptune Energy, cho biết có nhiều lý do để thận trọng khi tuyên bố dầu mỏ sắp "hết thời".

Với việc nhu cầu di chuyển bằng đường hàng không giảm, hãng hàng không Lufthansa của Đức đã cảnh báo rằng phải mất nhiều năm để số lượng hành khách trở lại mức trước khủng hoảng. Tuy nhiên, ông không chắc rằng toàn bộ ngành năng lượng sẽ "quay lưng" với dầu mỏ.

Trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, IEA dự báo rằng nhu cầu nhiên liệu máy bay sẽ tăng trên 1% mỗi năm trong 5 năm tới, tăng nhanh gấp ba lần so với xăng. Sự phục hồi kinh tế từ suy thoái hậu đại dịch có thể ủng hộ các loại nhiên liệu rẻ, uy tín như dầu mỏ.

Ông Sam Laidlaw lập luận rằng những hành động chống biến đổi khí hậu mạnh mẽ sẽ cần nhận được sự phối hợp lớn hơn trên phạm vi toàn cầu, chẳng hạn như việc chính phủ các nước áp thuế carbon mạnh hơn. "Nếu chúng ta thực sự muốn thúc đẩy chương trình nghị sự xanh về phía trước, chúng ta sẽ cần thấy sự phối hợp toàn cầu tốt hơn. Và điều đó chưa thấy có trong đại dịch này”, theo ông Laidlaw.

Ở Mỹ, các tập đoàn dầu mỏ lớn như ExxonMobil và Chevron đã ủng hộ ý tưởng đánh thuế carbon, nhưng nhìn chung là tiến tình chuyển đổi năng lượng còn khá chậm chạp. Lĩnh vực dầu đá phiến Mỹ có chi phí cao đối mặt với rủi ro tài chính lớn buộc các công ty phải cắt giảm chi tiêu vốn. Sản lượng dầu đá phiến dự kiến sẽ giảm mạnh trong hai năm tới.

Arjun Murti, từng là chuyên gia phân tích uy tín của Goldman Sachs, người đã dự đoán chính xác kỷ nguyên dầu mỏ 100 USD/thùng, cho biết ngành năng lượng Mỹ nhiều khả năng vẫn tiếp tục đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch, nhưng rất cần cải thiện tỷ lệ lợi nhuận trên vốn để giành lại các cổ đông.

Ông Arjun Murti, hiện thuộc hội đồng quản trị của công ty năng lượng ConocoPhillips, lập luận rằng mặc dù ông ủng hộ những nỗ lực chống biến đổi khí hậu, nhưng ông tin rằng các ước tính về đỉnh nhu cầu dầu bị thổi phồng.

Những kỳ vọng rằng các phương tiện chạy điện sẽ kiềm chế nhu cầu dầu là quá “lạc quan” và hiện có sự gia tăng ngày càng cao của các xe thể thao tốn nhiên liệu ở bên ngoài nước Mỹ. Ông Arjun Murti nói, chỉ có một công ty, Tesla, đã cho thấy mọi người sẵn sàng mua hàng trăm nghìn xe điện. Tuy nhiên, điều đó chưa được chứng minh với các nhà sản xuất khác.

Chris Midgley, cựu chuyên gia kinh tế trưởng tại Shell và hiện đang làm việc tại S&P Global Platts, nhận xét rằng vấn đề lớn nhất của lĩnh vực dầu mỏ là đã hoạt động yếu kém trong suốt 20 năm qua. Giá cổ phiếu ExxonMobil nhìn chung không thay đổi trong hai thập kỷ. Giá trị vốn hóa thị trường của tập đoàn này, 185 tỷ USD, đã bị Netflix vượt qua trong một khoảng thời gian ngắn vào tháng Tư.

Nếu giá dầu vẫn ở mức thấp và tiêu thụ phục hồi trong hai đến ba năm tới và ngành công nghiệp dầu đá phiến của Mỹ bị gạt sang một bên, trong khi các tập đoàn năng lượng lớn tập trung vào quá trình chuyển đổi, một số người đặt câu hỏi rằng nguồn cung dầu mới sẽ đến từ đâu? Ông Saad Rahim, nhà kinh tế trưởng tại công ty giao dịch Trafigura, dự báo rằng trong khoảng thời gian 5 năm tới, thị trường sẽ ở vào trạng thái rất khó khăn.

Ông John Browne cho rằng “vẫn có rất nhiều dầu ở khắp nơi” khi chỉ ra những phát hiện lớn gần đây ở Guyana và Brazil. Ông nói thêm, nhu cầu mới là cái ngành công nghiệp này cần phải lo lắng, chứ không phải nguồn cung. Các công ty than vẫn còn ở khắp nơi và các lĩnh vực hiện có sẽ tiếp tục hoạt động, ngay cả khi lợi nhuận tiềm năng của các nhà máy năng lượng Mặt Trời và gió bắt đầu trở nên hấp dẫn hơn./.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục