BNEWSYêu cầu thay đổi chính sách xuất phát từ thực trạng về khoảng cách đáng kể giữa lượng rác thải và năng lực xử lý của Indonesia.
Những vật liệu tái chế được lọc ra từ rác thải sinh hoạt. Ảnh: Đỗ Quyên – PV TTXVN tại Indonesia
Chính phủ Indonesia đang tăng cường cam kết đối với nền kinh tế tuần hoàn thông qua xây dựng cơ chế quy định trách nhiệm rõ ràng hơn đối với rác thải phát sinh từ sản phẩm và bao bì sau tiêu dùng của doanh nghiệp sản xuất. Đây là một trong những nỗ lực giảm áp lực lên hệ thống xử lý rác đồng thời phát triển kinh tế tuần hoàn. Theo Dự thảo quy định mới về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đang được Bộ Môi trường và Cơ quan Kiểm soát Môi trường Indonesia xây dựng, doanh nghiệp được yêu cầu phải chịu trách nhiệm đối với rác thải phát sinh từ sản phẩm, bao bì và vật chứa do mình đưa ra thị trường, từ khâu thiết kế đến quản lý sau tiêu dùng. Thứ trưởng Môi trường kiêm Phó Trưởng Cơ quan Kiểm soát Môi trường Diaz Hendropriyono, cho biết nguyên tắc EPR cần được áp dụng bình đẳng đối với các doanh nghiệp, tránh tình trạng một số nhà sản xuất thực hiện nghĩa vụ trong khi những đơn vị khác đứng ngoài cơ chế chung. Chính phủ Indonesia dự kiến hoàn thiện và công bố quy định mới vào tháng 11 tới. Áp lực rác thải và năng lực xử lý Yêu cầu thay đổi chính sách xuất phát từ thực trạng về khoảng cách đáng kể giữa lượng rác thải và năng lực xử lý của Indonesia. Theo số liệu của Bộ Môi trường, mỗi ngày cả nước phát sinh khoảng 144.500 tấn rác, nhưng tỷ lệ rác được quản lý mới đạt khoảng 25%. Trong số 522 bãi xử lý rác được thống kê, khoảng 70% vẫn vận hành theo phương thức đổ thải lộ thiên, gây nguy cơ ô nhiễm đất, nước và không khí. Trước áp lực này, chính phủ Indonesia đã đưa ra mục tiêu quản lý toàn bộ lượng rác phát sinh vào năm 2029.
Người dân Indonesia bỏ rác vào thùng rác phân loại trên đường phố. Ảnh: Đỗ Quyên – PV TTXVN tại Indonesia
Tại Indonesia, rác thải nhựa là một trong những thách thức nổi bật. Số liệu từ Bộ Môi trường cho biết nước này phát sinh khoảng 10,83 triệu tấn rác nhựa mỗi năm. Trong khi đó, 227 doanh nghiệp tái chế trong nước có tổng công suất thiết kế 3,16 triệu tấn/năm nhưng mới sử dụng khoảng 48% công suất. Ngành tái chế vẫn phải nhập khẩu khoảng 263.000 tấn nguyên liệu vào năm 2024 để đáp ứng yêu cầu về chất lượng, trong khi khoảng 61% lượng rác nhựa trong nước chưa được quản lý tối ưu. Những con số này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở lượng rác quá lớn, mà còn ở năng lực thu gom, phân loại và cung cấp nguyên liệu đạt chuẩn cho ngành tái chế. Trong bối cảnh đó, các nhà chức trách Indonesia nhận ra rằng nếu chỉ dựa vào ngân sách chính quyền địa phương và các cơ sở xử lý cuối nguồn, việc giải quyết rác thải sẽ khó đạt hiệu quả bền vững. Trả lời phóng viên TTXVN tại Jakarta, ông Fadli Rahman, Giám đốc điều hành Công ty Năng lượng sạch Denera, cho rằng chính sách EPR là một giải pháp bổ sung nguồn tài chính từ khu vực sản xuất, đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp thay đổi thiết kế bao bì, giảm vật liệu khó tái chế và tăng khả năng thu hồi sau sử dụng. Với góc nhìn từ doanh nghiệp, ông Fadli nhấn mạnh EPR không nên chỉ là cơ chế tài chính để chi trả cho việc quản lý rác thải mà còn cần khuyến khích đổi mới bao bì, tăng khả năng tuần hoàn vật liệu và đầu tư vào hạ tầng tái chế. Theo ông, chính phủ cần tính đến những khoản đầu tư mà doanh nghiệp đã thực hiện trong hệ thống thu gom và tái chế khi xây dựng cơ chế đóng góp dựa trên hiệu quả, nhằm tránh tính trùng chi phí và tạo động lực cho các mô hình kinh doanh bền vững. Từ nghĩa vụ riêng lẻ đến cơ chế tài chính có tổ chức Theo phương án được Bộ Môi trường Indonesia công bố tháng 9, doanh nghiệp sẽ đóng góp kinh phí cho các tổ chức thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất (PRO) theo khối lượng và chủng loại bao bì. Đây là các tổ chức phi lợi nhuận do nhà sản xuất thành lập và đóng góp kinh phí, có nhiệm vụ tổ chức thu gom, thu hồi và xử lý bao bì sau tiêu dùng, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ sở tái chế để phân loại, đưa vật liệu trở lại chuỗi sản xuất. Nghĩa vụ này cũng được mở rộng tới các nhà nhập khẩu đối với sản phẩm và bao bì nhập khẩu, nhằm bảo đảm sự công bằng giữa hàng hóa nhập khẩu và sản phẩm sản xuất trong nước.
Một xe cơ giới chuyên dụng thu gom rác tại khu dân cư. Ảnh: Đỗ Quyên – PV TTXVN tại Indonesia
Bên cạnh đó, một hệ thống đăng ký và thông tin tập trung cũng được đề xuất xây dựng nhằm theo dõi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ; áp dụng mức đóng góp khác nhau tùy theo thiết kế bao bì; ghi nhãn để hỗ trợ người tiêu dùng phân loại rác; đồng thời tăng cường giám sát và xử lý vi phạm. Theo cách tiếp cận này, mức đóng góp cũng được xác định trên cơ sở mức độ tái chế bao bì, nhằm đưa chi phí môi trường vào quyết định thiết kế sản phẩm, thay vì để toàn bộ gánh nặng phát sinh sau tiêu dùng cho xã hội. Tuy nhiên, việc xây dựng cơ chế tài chính mới không đồng nghĩa là các vấn đề sẽ tự động được giải quyết. Một trong những yêu cầu quan trọng là phân định rõ vai trò, trách nhiệm của nhà sản xuất, chính quyền và đơn vị xử lý rác, đồng thời bảo đảm kinh phí EPR được sử dụng đúng mục đích cho việc quản lý bao bì sau tiêu dùng. Nếu thiếu cơ chế kiểm toán và giám sát, việc đóng góp kinh phí có nguy cơ chỉ là một thủ tục hành chính, không tạo ra mức giảm rác thực tế. Kết nối ngành tái chế với hệ thống thu gom Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Jakarta về thách thức nguồn nguyên liệu cho ngành tái chế, bà Melda Mardalina, Giám đốc Quản lý chất thải thuộc Bộ Môi trường Indonesia, cho biết nước này đã triển khai chính sách tái chế và chương trình 3R (giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế), trong đó phân loại rác là khâu then chốt để hình thành thị trường tái chế. Theo bà Melda Mardalina, khu vực phi chính thức, bao gồm người nhặt rác, người thu mua phế liệu và các “ngân hàng rác”, cung cấp khoảng 85% nguyên liệu đầu vào cho ngành tái chế. Chuỗi thu gom, phân loại và xử lý này tạo ra giá trị kinh tế đáng kể, nhưng nhiều lao động vẫn hoạt động trong điều kiện thiếu bảo vệ xã hội và chưa được tích hợp đầy đủ vào hệ thống chính thức.
Một điểm tập kết rác ở khu Selong, Nam Jakarta (Indonesia). Ảnh: Đỗ Quyên – PV TTXVN tại Indonesia
Vì vậy, Chính phủ Indonesia nhấn mạnh việc kết nối các PRO với mạng lưới thu gom tại địa phương, đồng thời chuẩn hóa chất lượng vật liệu tái chế, cải thiện điều kiện làm việc và tăng khả năng truy xuất dữ liệu. Nếu được triển khai hiệu quả, nguồn tài chính từ nhà sản xuất có thể giúp ổn định hoạt động thu gom, tạo thêm việc làm xanh và cải thiện nguồn cung nguyên liệu cho các doanh nghiệp tái chế. Tuy nhiên, EPR chỉ là một phần trong hệ thống quản lý rác thải. Chính phủ Indonesia vẫn đặt trọng tâm vào phân loại tại nguồn, tái sử dụng, tái chế, ủ phân hữu cơ và các công nghệ xử lý phù hợp; đồng thời hướng tới chấm dứt phương thức đổ thải lộ thiên. Việc mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất không thể thay thế đầu tư vào hạ tầng thu gom, năng lực của chính quyền địa phương hay sự tham gia của người dân. Kinh nghiệm Indonesia cho thấy hiệu quả của EPR không chỉ phụ thuộc vào việc ban hành nghĩa vụ đối với doanh nghiệp, mà còn ở cách thiết kế cơ chế đóng góp, kiểm soát việc sử dụng kinh phí và kết nối các mắt xích trong chuỗi tái chế. Đối với các quốc gia đang tìm cách giảm lượng rác phải xử lý và phát triển kinh tế tuần hoàn, bài toán cốt lõi là làm sao để trách nhiệm môi trường được phân bổ rõ ràng, có nguồn lực thực hiện và được đo lường bằng kết quả thực tế, thay vì chỉ bằng cam kết hoặc báo cáo của doanh nghiệp.
Một tấm lưới đánh cá hư hỏng, chiếc áo không còn được sử dụng hay chất thải từ công trình xây dựng đều có thể trở thành nguồn vật liệu cho chu trình sản xuất mới.
Kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng nhanh hơn dự kiến trong quý III/2026, nhờ sự bùng nổ của ngành bán dẫn dưới tác động của làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI), qua đó thúc đẩy xuất khẩu và đầu tư.
Các dự án mới tiếp nối những cam kết đầu tư tư nhân trị giá hàng nghìn tỷ USD mà chính quyền Tổng thống Donald Trump cho biết đã thu hút kể từ khi ông nhậm chức.
Chỉ còn ít ngày trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ vào ngày 3/11 tới, một số nhân vật cấp cao của đảng Dân chủ đang điều chỉnh kỳ vọng về số ghế mà đảng có thể giành được tại Hạ viện.