Sẵn sàng nguồn nhân lực cho kỷ nguyên AI

  • Xuân Khu/Vnanet.vn

BNEWS AI đang tham gia vào tất cả các quá trình sản xuất, đòi hỏi người lao động cũng cần có những thay đổi về kỹ năng làm việc để đáp ứng yêu cầu mới với ứng dụng AI cho sản xuất, kinh doanh.

Quang cảnh Phiên chuyên đề “AI: Từ triển khai đến triển khai chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai ngành sản xuất”. Ảnh: Xuân Khu - TTXVN
Cần kết hợp giữa nhà nước- trường đại học- doanh nghiệp trong chuyển đổi kỹ năng cho người lao động và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sẵn sàng cho kỳ nguyên AI tham gia vào sản xuất cũng như mọi mặt của đời sống xã hội.

Đó là ý kiến chung của các diễn giả, chuyên gia Việt Nam và quốc tế tại Phiên chuyên đề "Từ triển khai đến triển khai chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai ngành sản xuất" trong trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026) với sự tham gia đồng thương hiệu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), diễn ra chiều 27/10, tại TP. Hồ Chí Minh.

Các diễn giả tham dự Phiên chuyên đề đã đưa ra nhiều ý kiến cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, AI đang tham gia vào tất cả các quá trình sản xuất, đòi hỏi người lao động cũng cần có những thay đổi về kỹ năng làm việc để đáp ứng yêu cầu mới với ứng dụng AI cho sản xuất, kinh doanh.

Từ góc nhìn của cơ quan quản lý nhà nước, Tiến sỹ Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, kỹ năng nghề và chuẩn kỹ năng nghề có một vai trò rất quan trọng, giúp giúp người lao động biết mình cần bổ sung thêm những kỹ năng gì và doanh nghiệp biết có thể sử dụng những kỹ năng người lao động đã có phải đào tạo bổ sung thêm gì khi tuyển dụng nhân lực.

Theo ông Trần Anh Tú, trong một nhà máy sản xuất, mỗi vị trí công việc khi ứng dụng AI sẽ có những yêu cầu khác nhau.Trên nền các kỹ năng nghề đó, cần cập nhật thêm kỹ năng sử dụng AI, kỹ năng xác định và kiểm chứng kết quả từ AI, phát hiện các hiện tượng bất thường, cũng như các vấn đề về bảo vệ dữ liệu và đảm bảo an toàn, an ninh dữ liệu. Doanh nghiệp phải cùng đồng hành xây dựng chuẩn kỹ năng khi đưa ra yêu cầu đối với vị trí công việc. Các công ty công nghệ AI xác định giải pháp và nêu rõ hạn chế của giải pháp đó; các cơ sở đào tạo dựa trên nhu cầu của doanh nghiệp và khả năng của công ty công nghệ để xây dựng chuẩn đầu ra cũng như cung cấp nội dung đào tạo.

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến vấn đề công nhận chuẩn kỹ năng. Việc đánh giá phải liên thông với hệ thống chuẩn, người đánh giá phải có năng lực và phải xác thực được kết quả đánh giá. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới biết người lao động có kỹ năng gì, làm được đến mức độ nào và trong điều kiện nào. Khi đạt được những điều kiện này, lực lượng lao động mới có khả năng chuyển đổi vị trí công việc nhanh chóng, và doanh nghiệp thuận lợi trong đào tạo dựa trên các kỹ năng đã được xác thực.

Ông Felix Weidenkaff, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, tham gia Phiên chuyên đề “AI: Từ triển khai đến triển khai chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai ngành sản xuất”. Ảnh: Xuân Khu - TTXVN
Trong khi đó, ông Felix Weidenkaff, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho biết, từ góc nhìn của ILO, Việt Nam là một trong những quốc gia rất tập trung vào việc dùng AI để tăng năng suất và giải quyết các vấn đề thị trường lao động. Tuy nhiên, tại Việt Nam chủ yếu là sự chuyển đổi công việc chứ không chỉ đơn thuần là giải quyết thách thức về kỹ năng lao động. Thực tế thì trong ngành sản xuất, mức độ rủi ro bị thay thế bởi AI tạo sinh là tương đối thấp. Doanh nghiệp biết định hướng chiến lược, nhưng người lao động mới là người nắm rõ quy trình sản xuất, rủi ro an toàn và các chi tiết vận hành thực tế. Cần có những giải pháp để chuyển đổi mức tăng năng suất đó thành sự tiến bộ chung của thị trường lao động và nâng cao kỹ năng cho người lao động phải đi kèm với việc nâng cấp cơ cấu tiền lương, an toàn vệ sinh lao động khi áp dụng AI một cách có trách nhiệm.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới việc nâng cao chuỗi giá trị trong ngành sản xuất toàn cầu và đã đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 kỹ sư và chuyên gia bán dẫn vào năm 2030, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng thích ứng với AI trong sản xuất là một vấn đề rất quan trọng, đòi hỏi phải có sự hợp tác hiệu quả giữa các trường Đại học và doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề trong công tác đào tạo và nghiên cứu.

PGS.TS Quản Thành Thơ, Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, Việt Nam đang tiến lên các nấc thang công nghệ có giá trị cao hơn như AI hay bán dẫn. Và trường đại học dĩ nhiên đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển này. Các trường đại học và doanh nghiệp nên cùng nhau xây dựng khung chương trình giảng dạy. Chương trình này tất nhiên phải tích hợp lý thuyết từ trường, viện nghiên cứu nhưng cũng phải phản ánh chính sách của chính phủ và lồng ghép các thực hành tốt nhất từ doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp sinh viên khi tốt nghiệp có thể đáp ứng ngay các yêu cầu của thị trường.

Đồng thời, cần có giải pháp khuyến khích và thúc đẩy tư duy đổi mới sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên bằng cách gắn sinh viên với các dự án nghiên cứu cả trong phòng thí nghiệm và các dự án phát triểnđến từ doanh nghiệp. Việc xây dựng hệ sinh thái hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp mang lại lợi ích không chỉ cho nhà trường hay doanh nghiệp, mà cho toàn xã hội, trực tiếp là chuân bị tốt hơn cho thế hệ tiếp theo trong kỷ nguyên AI.

Các diễn giả tham dự Phiên thảo luận cho rằng, Việt Nam cần triển khai ngay kế hoạch xây dựng một hệ sinh thái mở, năng động để kết nối khu vực công - tư và các trường học, giúp lực lượng lao động hôm nay và ngày mai liên tục nâng cao kỹ năng và phát triển; tăng tốc biến đổi thị trường lao động tương ứng với tốc độ và quy mô của các khoản đầu tư vào AI và hạ tầng kỹ thuật số; các doanh nghiệp phải gắn liền việc ứng dụng AI với việc tái đào tạo nguồn nhân lực của mình, giúp người lao động làm chủ công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Đồng thời, cần tạo mối kết nối chặt chẽ giữa Chính phủ - Trường đại học - Doanh nghiệp, để tạo cơ hội tiếp cận đào tạo nâng cao kỹ năng AI cho tất cả mọi người; tích hợp khả năng tự học và ứng dụng công nghệ mới vào hệ thống giáo dục, giúp người lao động biết cách thích ứng nhanh chóng với bất kỳ công nghệ nào trong tương lai.



Tin cùng chuyên mục