BNEWS Thị trường nội địa đang mở ra nhiều cơ hội cho sản phẩm vùng dân tộc thiểu số, từ hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử, bán hàng đa kênh đến du lịch gắn với văn hóa, trải nghiệm.
Tại tọa đàm Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng dân tộc thiểu số và miền núi do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 3/9 tại Hà Nội, nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh nâng chất lượng sản phẩm cần chuyển mạnh từ hoạt động kết nối, giới thiệu sản phẩm sang tìm kiếm đơn hàng thực chất, xây dựng kênh phân phối phù hợp và duy trì quan hệ thương mại ổn định.
Thị trường nội địa đang mở ra nhiều cơ hội cho sản phẩm vùng dân tộc thiểu số, từ hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử, bán hàng đa kênh đến du lịch gắn với văn hóa, trải nghiệm, nhóm quà tặng, chăm sóc sức khỏe, tiêu dùng xanh và thị trường miền núi, biên giới. Tuy nhiên, để những cơ hội này chuyển thành sức mua thực tế, các chủ thể sản xuất phải đáp ứng tốt hơn yêu cầu của từng phân khúc, đồng thời nâng khả năng cung ứng, truy xuất nguồn gốc, logistics và tham gia các kênh phân phối. Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), hiệu quả hỗ trợ thị trường cần được nhìn bằng những kết quả cụ thể hơn như doanh thu có tăng, đơn hàng có lặp lại và quan hệ thương mại có được duy trì lâu dài hay không, thay vì chỉ dừng ở số lượng sản phẩm tham gia hội chợ hay số cuộc kết nối được tổ chức. Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn cho biết, sản phẩm vùng dân tộc thiểu số có thể tiếp cận nhiều không gian thị trường trong nước, từ hệ thống phân phối hiện đại tại đô thị, thương mại điện tử, bán hàng đa kênh đến du lịch gắn với văn hóa và trải nghiệm; nhóm quà tặng, chăm sóc sức khỏe, tiêu dùng xanh và tiêu dùng có trách nhiệm; thị trường địa phương, miền núi và thương mại biên giới. Tuy nhiên, mỗi kênh lại đặt ra những yêu cầu khác nhau về chất lượng, bao bì, giá cả, sản lượng, thời gian giao hàng và khả năng cung ứng. Ở góc độ sản xuất, ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh sản phẩm vùng dân tộc thiểu số có những đặc trưng riêng về điều kiện sản xuất, tri thức bản địa, văn hóa và phương thức giao thương. Vì vậy, không thể áp dụng một cách tiếp cận thị trường giống nhau cho tất cả sản phẩm. Theo ông Đào Đức Huấn, muốn mở rộng đầu ra phải thích ứng đồng thời ở ba khâu là sản phẩm, năng lực sản xuất và kênh thị trường. Sản phẩm phải phù hợp với nhu cầu từng phân khúc; sản xuất phải ổn định để đáp ứng đơn hàng; các hợp tác xã và chủ thể sản xuất cần nâng cao năng lực quản trị, điều phối sản xuất, kỹ năng số và logistics. Quan trọng hơn, cần chuyển từ tư duy “sản xuất rồi chờ người mua” sang chủ động tham gia thị trường, nắm bắt nhu cầu và tổ chức sản xuất theo tín hiệu thị trường. Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) có vai trò hỗ trợ chuẩn hóa sản xuất, chất lượng, an toàn, bao bì và khả năng tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, theo ông Huấn, việc chuẩn hóa cần đi cùng nâng cao năng lực của hợp tác xã để đáp ứng những yêu cầu khác nhau của từng kênh phân phối, qua đó giúp sản phẩm không chỉ được biết đến mà có khả năng duy trì trên thị trường. Thực tế của Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn cho thấy rõ những yêu cầu này. Ông Lê Đức Hải, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng cho biết, sản phẩm na của hợp tác xã được trồng trên vùng núi đá vôi, phát triển theo hướng xanh, sạch, hữu cơ. Hợp tác xã đã đưa sản phẩm lên Zalo, Facebook, thương mại điện tử và TikTok Shop. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến tính minh bạch, thậm chí có khách hàng yêu cầu mua na tại những khu vườn được giới thiệu cụ thể qua video. Tuy nhiên, năng lực tập kết và đóng gói vẫn là điểm hạn chế. Thành viên hợp tác xã có thể thu hoạch từ 5-7 tạ đến 1-2 tấn mỗi ngày, trong khi thời gian bảo quản na chỉ khoảng một tuần. Vì vậy, đầu ra hiện vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thương lái thu mua tại vườn. Hợp tác xã mong muốn hoàn thiện bao bì, hộp quà, xây dựng sản phẩm mỗi xã một sản phẩm, mã phản hồi nhanh, truy xuất nguồn gốc và mở rộng ba hướng tiêu thụ gồm sản phẩm quà tặng, siêu thị và chuỗi trái cây sạch, cùng hệ thống điểm tập kết, kho hàng.Từ thực tiễn này, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn chỉ ra các điểm nghẽn mang tính hệ thống đối với sản phẩm vùng dân tộc thiểu số gồm năng lực cung ứng, truy xuất nguồn gốc, thương mại hóa giá trị văn hóa, logistics và khả năng tham gia các kênh phân phối. Hơn nữa, hội chợ và kết nối thương mại chỉ là bước mở cửa thị trường; để duy trì quan hệ mua bán, sản phẩm phải đáp ứng được tiêu chuẩn, chất lượng và khả năng cung ứng.
Vì vậy, giải pháp đầu tiên được ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh là chuyển mạnh sang kết nối cung - cầu có chọn lọc. Trước khi kết nối cần sàng lọc, chuẩn bị sản phẩm; sau kết nối phải theo dõi đơn hàng thử nghiệm, khả năng tái đặt hàng, logistics và chất lượng. Nhà phân phối cũng cần được tham gia sớm để xác định các yêu cầu về bao bì, giá, sản lượng, thời gian và phương thức giao hàng. Chuyển đổi số cũng cần đi vào thực chất, từ xây dựng gian hàng số, nội dung giới thiệu sản phẩm đến quản lý tồn kho, đơn hàng, thanh toán và dữ liệu khách hàng; đồng thời khai thác livestream, người có ảnh hưởng và các nền tảng bán hàng phù hợp. Cùng với đó là nâng tiêu chuẩn sản phẩm và củng cố niềm tin người tiêu dùng thông qua chất lượng, an toàn, nhãn hàng hóa, sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và bao bì. Tuy nhiên, quá trình chuẩn hóa cần giữ được bản sắc địa phương, bởi đây là lợi thế tạo khác biệt cho sản phẩm vùng dân tộc thiểu số. Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tổ chức logistics theo vùng, hình thành điểm thu gom, sơ chế, đóng gói, kho phù hợp và lịch vận chuyển dùng chung; tăng cường liên kết với mạng lưới bưu chính, logistics và bán lẻ. Với những sản phẩm có thời gian bảo quản ngắn như na, đây là yếu tố quan trọng để mở rộng thị trường và giảm sự phụ thuộc vào thu mua tại vườn. Ở góc độ chủ thể sản xuất, ông Đào Đức Huấn cho rằng cần tiếp tục nâng năng lực của các hợp tác xã, từ quản trị, điều phối nguồn hàng đến nắm bắt nhu cầu, lựa chọn kênh tiêu thụ và tổ chức sản xuất phù hợp. Khi hợp tác xã có đủ năng lực đáp ứng tín hiệu thị trường, sản phẩm mới có thể chuyển từ những đơn hàng ngắn hạn sang đầu ra ổn định. Từ phía địa phương, ông Lê Minh Tuấn, Trưởng phòng Quản lý Thương mại- Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng cho hay: Sản phẩm vùng dân tộc thiểu số có lợi thế từ tri thức bản địa, tập quán canh tác và văn hóa truyền thống. Vì vậy, địa phương tiếp tục chú trọng xúc tiến thương mại, số hóa, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, nâng cao chất lượng, phát triển hạ tầng thương mại nông thôn và hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp khởi nghiệp do phụ nữ làm chủ. Từ những trao đổi tại tọa đàm, các chuyên gia cho rằng yêu cầu đặt ra là phải chuyển trọng tâm từ việc đưa sản phẩm ra thị trường sang xây dựng khả năng bán hàng ổn định và lâu dài. Hiệu quả của chính sách vì thế không chỉ nằm ở số lượng sản phẩm được hỗ trợ, mà ở khả năng duy trì thị trường, có đơn hàng lặp lại, tăng doanh thu, giảm chi phí và tạo thêm việc làm, thu nhập cho cộng đồng. Bởi theo các chuyên gia, khi năng lực sản xuất được nâng lên cùng với sự chủ động trong tiếp cận và phát triển thị trường, sản phẩm vùng dân tộc thiểu số mới có thể từng bước vượt khỏi giá trị đặc sản để trở thành những sản phẩm có sức cạnh tranh và giá trị thương mại bền vững.Tin liên quan
Xúc tiến thương mại kiến tạo thị trường đưa hàng Việt vươn xa
Bộ Công Thương triển khai Chương trình GoGlobal giai đoạn 2026-2030, hỗ trợ doanh nghiệp Việt xây dựng thương hiệu, mở rộng phân phối và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Tin cùng chuyên mục
-
Thị trườngThái Lan cảnh báo xuất khẩu gạo và đường sang Trung Quốc đối mặt rủi ro
Thái Lan cảnh báo xuất khẩu gạo và đường của nước này sang Trung Quốc có nguy cơ chững lại trong những năm tới, khi Trung Quốc đẩy mạnh tự chủ sản xuất nông nghiệp.
-
Thị trườngĐắk Lắk kích cầu tiêu dùng nội địa từ chương trình khuyến mại hàng hiệu
Thị trường Đắk Lắk, đặc biệt là Buôn Ma Thuột là “điểm đến” hứa hẹn về sức mua cao, dựa vào sự phân bố dân cư, mức thu nhập và độ nhận diện các thương hiệu.
-
Thị trườngVIFA ASEAN 2026: Cầu nối đưa nội ngoại thất Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu
Ngày 2/9, Hội chợ Quốc tế Sản phẩm Nội Ngoại thất và Mỹ nghệ Việt Nam ASEAN lần thứ 4 (VIFA ASEAN 2026) đã khai mạc tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), TP. Hồ Chí Minh.
-
Thị trườngXúc tiến thương mại kiến tạo thị trường đưa hàng Việt vươn xa
Bộ Công Thương triển khai Chương trình GoGlobal giai đoạn 2026-2030, hỗ trợ doanh nghiệp Việt xây dựng thương hiệu, mở rộng phân phối và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.
-
Thị trườngGiá dầu thế giới chốt phiên 31/8 tăng hơn 2%
Giá dầu thế giới chốt phiên 31/8 tăng hơn 2%, trong bối cảnh các cuộc đụng độ quân sự tái diễn giữa Mỹ và Iran làm gia tăng lo ngại về lạm phát.
-
Thị trườngHàng Việt lên ngôi trên "chợ" thương mại điện tử dịp Lễ 2/9
Trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 năm nay, bức tranh tiêu dùng đang ghi nhận sự thay đổi mang tính cấu trúc.
-
Thị trườngGiá lúa mỳ và gạo châu Á lập đỉnh nhiều năm, cà phê đi ngang
Thị trường nông sản thế giới ghi nhận những biến động mạnh do tác động kép từ thời tiết cực đoan và căng thẳng địa chính trị.
-
Thị trườngThị trường TP.Hồ Chí Minh sôi động ngày đầu kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9
Kỳ nghỉ Quốc khánh 2/9 năm nay kéo dài 5 ngày, từ 29/8 đến 2/9, đang tạo thêm động lực cho thị trường tiêu dùng khi nhu cầu mua sắm, chuẩn bị bữa ăn gia đình, gặp gỡ, vui chơi và du lịch cùng tăng.
-
Thị trườngTây Ninh đảm bảo đủ sách giáo khoa cho học sinh trước năm học mới
Những ngày cuối tháng 8, thị trường sách giáo khoa, vở viết và đồ dùng học tập tại tỉnh Tây Ninh trở nên nhộn nhịp khi phụ huynh, học sinh tất bật chuẩn bị cho năm học 2026 - 2027.












