Khơi thông nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh Đồng bằng sông Cửu Long

  • Phạm Minh Tuấn/vnanet.vn

BNEWS Ngày 26/8, tại Vĩnh Long, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh và phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Phạm Minh Tuấn - TTXVN

Các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, tổ chức tài chính - ngân hàng và doanh nghiệp đã tập trung nhận diện những điểm nghẽn về nguồn vốn, cơ chế tài chính và khả năng hấp thụ vốn, qua đó đề xuất giải pháp thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu của vùng.

Phát biểu tại hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Quang Hùng, Giám đốc UEH cho rằng, Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều tiềm năng, nhưng tiềm năng không tự động chuyển thành năng lực cạnh tranh. Quá trình chuyển đổi mô hình phát triển cần nguồn lực đầu tư và cơ chế tài chính phù hợp, trong đó vấn đề không chỉ là huy động thêm vốn mà quan trọng là vốn được phân bổ vào đâu, đến với đối tượng nào, cơ chế chia sẻ rủi ro và chi phí ra sao, đồng thời đo lường được tác động đối với môi trường và xã hội. 

Theo ông Bùi Quang Hùng, Đồng bằng sông Cửu Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những thay đổi về không gian kinh tế, liên kết vùng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, quá trình chuyển đổi cần sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, hệ thống tài chính, doanh nghiệp, người sản xuất và các cơ sở đào tạo.

Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế; hệ thống tài chính thiết kế các công cụ phù hợp; doanh nghiệp nâng cao năng lực hấp thụ vốn; người sản xuất được tham gia và hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi; các trường đại học cung cấp bằng chứng khoa học và nguồn nhân lực, qua đó hình thành hệ sinh thái hỗ trợ chuyển đổi xanh. 

PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, Chủ tịch Ban Điều hành Alumni UEH phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Phạm Minh Tuấn - TTXVN

Tại hội thảo, các đại biểu tập trung vào ba hướng tiếp cận gồm: Cơ chế chia sẻ chi phí chuyển đổi xanh trong nông nghiệp; khả năng tiếp cận tín dụng xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn với tài chính số, thực hành ESG và kiểm soát rủi ro “tẩy xanh”; mô hình tài chính khí hậu hỗn hợp (Blended Finance) cho chuỗi giá trị nông - thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới mục tiêu Net Zero 2050.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Thị Bích Nguyệt, Chủ tịch Ban Điều hành Alumni UEH cho biết, Đồng bằng sông Cửu Long giữ vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực và kinh tế quốc gia, đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, gần 95% lượng gạo xuất khẩu, 65 - 70% sản lượng thủy sản và gần 70% sản lượng trái cây cả nước.

Tuy nhiên, vùng đang chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu như xâm nhập mặn, sụt lún, sạt lở bờ sông, bờ biển, suy giảm phù sa và thời tiết cực đoan. Cùng với đó, các thị trường xuất khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu cao về giảm phát thải khí nhà kính và trách nhiệm môi trường, xã hội.

Theo các chuyên gia, đây vừa là sức ép vừa là cơ hội để Đồng bằng sông Cửu Long chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, nâng cao giá trị nông sản và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời mở ra khả năng phát triển thị trường tín chỉ carbon.

Tuy nhiên, chi phí chuyển đổi không chỉ nằm ở đầu tư công nghệ mà còn bao gồm xây dựng dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận, đào tạo, tổ chức lại sản xuất, liên kết chuỗi, xử lý phụ phẩm và bảo đảm sinh kế trong giai đoạn đầu.

PGS.TS Bùi Quang Hùng, Giám đốc UEH phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Phạm Minh Tuấn - TTXVN

Trong khi đó, lợi ích từ thị trường thường cần thời gian mới hình thành. Đặc điểm sản xuất chủ yếu dựa vào nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ càng đòi hỏi cơ chế tài chính có sự tham gia của nhiều chủ thể, chia sẻ hợp lý chi phí và rủi ro.

Tiến sĩ Phạm Minh Trí, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 14 cho rằng, để khơi thông dòng vốn tín dụng xanh phục vụ phát triển bền vững, cần sớm hoàn thiện khung quản lý rủi ro môi trường và xã hội, đồng thời thống nhất danh mục phân loại xanh ở cấp quốc gia.

Đây là cơ sở để các tổ chức tín dụng thiết kế sản phẩm tín dụng xanh phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, giảm rủi ro trong thẩm định và mở rộng khả năng tiếp cận vốn. Cùng với hoàn thiện khung pháp lý, cần nghiên cứu các công cụ hỗ trợ như ưu tiên hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng có tỷ trọng cho vay dự án xanh cao hoặc hỗ trợ nguồn vốn thông qua tái cấp vốn, tái chiết khấu với lãi suất phù hợp cho các dự án bền vững.

Đối với địa phương, chuyên gia đề xuất xây dựng nền tảng dữ liệu xanh, kết nối thông tin về doanh nghiệp, hợp tác xã và các dự án đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Việc chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu sẽ giúp tổ chức tín dụng thuận lợi hơn trong thẩm định, giảm bất đối xứng thông tin và rút ngắn thời gian tiếp cận vốn.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng xanh đòi hỏi chủ động số hóa quản trị tài chính, minh bạch dòng tiền, hoàn thiện hồ sơ môi trường và áp dụng các tiêu chuẩn phù hợp. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị rủi ro và hạn chế nguy cơ “tẩy xanh” trong quá trình huy động nguồn vốn.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long Văn Hữu Huệ phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Phạm Minh Tuấn - TTXVN

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long Văn Hữu Huệ cho biết, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp là yêu cầu tất yếu trước tác động của biến đổi khí hậu, thay đổi của thị trường và xu hướng tài chính bền vững. Tuy nhiên, quá trình này sẽ khó đạt hiệu quả nếu chỉ được xem là yêu cầu về kỹ thuật mà cần giải quyết bài toán phân bổ chi phí, rủi ro và lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị.

Theo đó, Vĩnh Long cần ưu tiên cơ chế chia sẻ chi phí theo hướng lấy nông hộ và hợp tác xã làm trung tâm tổ chức sản xuất, doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi làm động lực thị trường, dữ liệu và tiêu chuẩn làm nền tảng quản trị, tài chính xanh làm công cụ huy động nguồn lực và bảo đảm sinh kế làm điều kiện duy trì tính bền vững.

Khi chi phí và rủi ro được phân bổ hợp lý giữa các chủ thể, chuyển đổi xanh không chỉ giúp đáp ứng các yêu cầu về môi trường mà còn tạo cơ hội nâng cao chất lượng tăng trưởng nông nghiệp, cải thiện sinh kế khu vực nông thôn và nâng cao vị thế nông sản Đồng bằng sông Cửu Long trong các chuỗi giá trị có trách nhiệm.

Phạm Minh Tuấn/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục