BNEWS Sáng 2/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Các đại biểu đề nghị hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo hướng gắn với hiệu quả thực chất và kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư; đồng thời cải cách đồng bộ thủ tục, khắc phục tình trạng chồng chéo, rút ngắn thời gian và giảm chi phí thực hiện dự án.
*Đo lường hiệu quả đầu tư
Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Hưng Yên) tán thành nguyên tắc gắn ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư, song đề nghị làm rõ mức độ thực hiện cam kết được coi là đạt yêu cầu và phạm vi thu hồi ưu đãi khi nhà đầu tư chỉ thực hiện một phần cam kết.
Theo đại biểu, một dự án công nghệ cao có thể đạt mục tiêu giải ngân, sản lượng nhưng không thực hiện đầy đủ cam kết về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp trong nước. Vì vậy, cần quy định việc đánh giá theo từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý tương ứng, bảo đảm tính ràng buộc nhưng tránh áp dụng cứng nhắc đối với nhà đầu tư.
Về đánh giá hiệu quả dự án, đại biểu cho rằng, nếu chỉ căn cứ vào vốn đăng ký và kim ngạch xuất khẩu sẽ chưa phản ánh đầy đủ mức độ đóng góp cho nền kinh tế. Hai dự án có cùng quy mô vốn nhưng một dự án chủ yếu gia công, sử dụng linh kiện nhập khẩu, trong khi dự án khác thực hiện nghiên cứu và phát triển, đào tạo kỹ sư, sử dụng nhà cung cấp trong nước thì giá trị đóng góp có thể khác nhau đáng kể.
Đại biểu đề nghị giao Chính phủ ban hành bộ tiêu chí đánh giá theo ngành, lĩnh vực, chú trọng giá trị gia tăng trong nước, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, chất lượng nhân lực, liên kết doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Kết quả đánh giá cần được sử dụng làm căn cứ xem xét tiếp tục áp dụng hoặc điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư.
Thảo luận về nội dung này, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) đề nghị quy định cụ thể kết quả đầu ra, phương pháp, thời điểm kiểm chứng và cơ quan chịu trách nhiệm xác nhận đối với từng loại hình hỗ trợ đầu tư đặc biệt. Những yêu cầu này cần được xác định ngay trong hồ sơ làm căn cứ quyết định hỗ trợ, giúp nhà đầu tư dự báo nghĩa vụ thực hiện và cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá thống nhất.
Riêng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, đại biểu đề nghị phân biệt kết quả nâng cao năng lực với kết quả thương mại. Việc doanh nghiệp có ký kết được hợp đồng cung ứng hay không còn phụ thuộc vào thị trường và quyết định của bên mua, do đó cần ưu tiên kiểm chứng các kết quả thuộc phạm vi cam kết như năng lực đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm định, thiết kế và quản trị.
Đối với việc thu hồi ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, đại biểu đề nghị phân biệt điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách với những chỉ tiêu cam kết được thực hiện theo từng giai đoạn, hạng mục. Nếu không đáp ứng điều kiện bắt buộc thì phải thu hồi khoản hỗ trợ đã hưởng không đúng quy định.
Tuy nhiên, đối với những chỉ tiêu có thể tách riêng, cần xác định phạm vi thu hồi tương ứng, tránh trường hợp không hoàn thành một chỉ tiêu dẫn đến bị thu hồi cả khoản hỗ trợ dành cho những hạng mục độc lập đã thực hiện đúng cam kết. Trường hợp kê khai gian dối phải được xử lý nghiêm.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, hiệu quả thu hút đầu tư cần được đánh giá cả về chất lượng dự án, hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên, ngân sách và mức độ đóng góp vào chuỗi giá trị của vùng. Qua đó, khuyến khích các địa phương cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, dịch vụ công và trách nhiệm đồng hành cùng doanh nghiệp, thay vì chỉ chạy theo số lượng dự án hoặc quy mô vốn đầu tư thu hút về từng địa bàn.
*Đẩy mạnh cải cách thủ tục
Góp ý dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) cho rằng, cải cách thủ tục đầu tư phải được thực hiện đồng bộ trong toàn bộ quy trình triển khai dự án. Nếu một dự án được chấp thuận nhanh nhưng vẫn mất nhiều năm để hoàn thành các thủ tục tiếp theo do thẩm định trùng lặp, trình tự thiếu thống nhất thì mục tiêu cải cách chưa đạt được.
Đối với việc mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt, đại biểu đề nghị phân định rõ những thủ tục được thực hiện theo cơ chế đặc biệt, những nội dung có thể tích hợp hoặc giải quyết song song và các điều kiện bắt buộc phải hoàn thành trước khi triển khai dự án, nhất là về giao đất, cho thuê đất và đánh giá tác động môi trường.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đề nghị chỉ áp dụng cơ chế này đối với quỹ đất đã có quy hoạch chi tiết được phê duyệt và hạ tầng kỹ thuật kết nối. Trường hợp có từ hai nhà đầu tư trở lên cùng quan tâm, việc lựa chọn phải thực hiện theo pháp luật về đất đai, đấu giá, đấu thầu, không căn cứ vào thứ tự nộp hồ sơ. Đồng thời, cần bổ sung nguyên tắc liên thông, cho phép các cơ quan sử dụng kết quả thẩm định đã có, không thẩm định lại hoặc yêu cầu nhà đầu tư cung cấp lại hồ sơ; mỗi dự án có một cơ quan đầu mối điều phối, với thời hạn giải quyết và trách nhiệm cụ thể khi xảy ra chậm trễ.
Theo đại biểu Nguyễn Hữu Trung (Thành phố Hồ Chí Minh), việc sửa đổi Luật Đầu tư cần làm rõ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn và xác định hiệu quả cải cách thông qua mức giảm rủi ro, thời gian, chi phí cho nhà đầu tư.
Đối với Cổng một cửa đầu tư quốc gia, đại biểu đề nghị quy định rõ nguyên tắc một lần khai báo, một mã hồ sơ, một đầu mối chịu trách nhiệm và thời hạn giải quyết ở từng bước. Các cơ quan phải sử dụng chung dữ liệu, không yêu cầu doanh nghiệp nộp lại giấy tờ đã có; thông tin cơ bản về thủ tục, điều kiện, tiến độ và tình trạng hồ sơ của nhà đầu tư phải được tra cứu miễn phí, đồng thời có cơ chế xử lý khi giải quyết hồ sơ quá hạn.
*Làm rõ sự cần thiết tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, mục tiêu xuyên suốt là không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút vốn, khơi thông các nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng trong từng thời kỳ.
Bộ trưởng nhấn mạnh, yêu cầu huy động nguồn lực trong giai đoạn tới rất lớn. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động giai đoạn 2026-2030 dự kiến tăng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025, trong đó, riêng vốn FDI thực hiện đặt mục tiêu đạt bình quân 30-40 tỷ USD/năm. Trong khi đó, sức ép cạnh tranh ngày càng lớn giữa các quốc gia trong thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao, điện tử, bán dẫn và chuyển đổi số.
Điều này đòi hỏi Việt Nam tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đồng thời xây dựng chính sách ưu đãi phù hợp để thu hút các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên- Bộ trưởng nói.
Liên quan đến chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng cho biết, định hướng sửa đổi không chỉ căn cứ vào quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực đầu tư mà còn chú trọng kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư, đặc biệt là chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước.
Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy định nhằm gắn chính sách hỗ trợ đầu tư với kết quả đầu ra, bảo đảm có thể lượng hóa, kiểm tra và giám sát; đồng thời, làm rõ cơ chế xử lý đối với trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng điều kiện hoặc không thực hiện đúng cam kết hưởng ưu đãi, hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu kiện trong hoạt động đầu tư...
Tin liên quan
Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI: Ưu đãi đầu tư phải đi đôi với hiệu quả dự án
Sáng 2/11, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu đã thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamHà Nội thu ngân sách vượt dự toán cả năm sau 10 tháng
Theo Thống kê thành phố Hà Nội, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố 10 tháng năm 2026 ước đạt 652,2 nghìn tỷ đồng, vượt 0,3% dự toán cả năm và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước.
-
Kinh tế Việt NamPhú Thọ thu hút vốn FDI tăng hơn 81%
Vốn FDI đăng ký vào Phú Thọ đạt 2.485 triệu USD trong 10 tháng năm 2026 tăng 81,5% so với cùng kỳ, trong khi thu hút đầu tư trong nước giảm.
-
Kinh tế Việt NamCạnh tranh thu hút FDI đòi hỏi chính sách hỗ trợ gắn với kết quả đầu ra
Việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Đảng về đổi mới thu hút FDI, sửa đổi Luật Đất đai, quy hoạch không gian và tái cấu trúc không gian vùng.
-
Kinh tế Việt NamCao tốc miền Tây: Gỡ nút thắt vật liệu, siết trách nhiệm nhà thầu
Bí thư Thành ủy Cần Thơ Đỗ Thanh Bình yêu cầu các đơn vị tập trung tháo gỡ vướng mắc về vật liệu, huy động nhân lực, thiết bị, tổ chức thi công đồng loạt.
-
Kinh tế Việt NamTừ cửa khẩu đến sàn số: Cơ hội mới cho hàng hóa Tây Ninh
Để chủ động đón đầu xu hướng hội nhập số, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xây dựng kế hoạch tổng thể ứng dụng TMĐT tại khu vực biên giới giai đoạn 2027-2030, hướng đến nâng cao hiệu quả giao thương.
-
Kinh tế Việt NamTổ chức lại không gian phát triển - Bài cuối: Trung Quốc quy hoạch phát triển kinh tế vùng
Trong nỗ lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các khu vực trọng điểm, Trung Quốc đã chú trọng liên kết các đô thị, ngành công nghiệp cũng như tài nguyên, gắn liền với định hướng phát triển quốc gia.
-
Kinh tế Việt NamTổ chức lại không gian phát triển - Bài 3: Doanh nghiệp tái cấu trúc chuỗi cung ứng vùng
Khi không gian kinh tế mới được tổ chức lại dựa trên lợi thế chức năng thay vì ranh giới hành chính, cộng đồng doanh nghiệp buộc phải định vị lại chiến lược hoạt động để sinh tồn và vươn lên.
-
Kinh tế Việt NamTổ chức lại không gian phát triển - Bài 2: Ba cực tăng trưởng bứt phá nhờ tư duy liên kết vùng
Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, tổ chức lại không gian, khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương.
-
Kinh tế Việt NamTổ chức lại không gian phát triển - Bài 1: Từ phát triển vùng kinh tế đến nâng sức cạnh tranh quốc gia
Thay vì tổ chức các hoạt động phát triển trong phạm vi địa giới hành chính, Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra yêu cầu hình thành không gian kinh tế mở, dựa trên khả năng liên kết giữa các địa phương.













