Lãi suất ngân hàng nhiều diễn biến đáng chú ý

  • Lê Phương/Bnews/Vnanet.Vn

BNEWS Thị trường lãi suất ngân hàng tiếp tục có sự phân hóa rõ nét trong tuần qua, cả ở chiều huy động và cho vay, khi các ngân hàng có những diễn biến khác nhau về mặt bằng lãi suất.

Đáng chú ý nhất trong diễn biến lãi suất tuần qua là động thái điều chỉnh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) vào ngày cuối tuần 22/8. Sau hơn 2 năm giữ nguyên, SCB bất ngờ tăng lãi suất tiền gửi kỳ hạn 13 tháng đối với sản phẩm “Tiền gửi thông thường 13 tháng”, lĩnh lãi cuối kỳ, từ 3,9% lên 8,7%/năm.

Lãi suất ngân hàng nhiều diễn biến đáng chú ý. Ảnh: Bnews phát

Mức tăng tới 4,8 điểm phần trăm trong một lần điều chỉnh là mức biến động hiếm gặp trên thị trường, đưa lãi suất kỳ hạn 13 tháng của SCB lên cao hơn đáng kể so với các kỳ hạn còn lại.

Theo biểu lãi suất đang niêm yết, các kỳ hạn và sản phẩm tiền gửi khác của SCB chưa thay đổi. Tiền gửi trực tuyến, lĩnh lãi cuối kỳ, có lãi suất 1,6%/năm đối với kỳ hạn 1-2 tháng; 1,9%/năm đối với kỳ hạn 3-5 tháng và 2,9%/năm đối với kỳ hạn 6-11 tháng.

Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất được giữ ở mức 3,7%/năm, trong khi các kỳ hạn từ 13-36 tháng niêm yết 3,9%/năm, ngoại trừ mức 8,7%/năm mới được áp dụng cho sản phẩm tiền gửi thông thường kỳ hạn 13 tháng. Với nhiều kỳ hạn, SCB vẫn thuộc nhóm có lãi suất thấp trên thị trường.

Trong khi đó, một diễn biến khác đáng chú ý là việc Ngân hàng số Cake by VPBank triển khai chương trình cộng thêm lãi suất cho khách hàng gửi tiết kiệm.

Cụ thể, khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu được cộng thêm tới 2 điểm phần trăm đối với các kỳ hạn 6-12 tháng. Theo biểu lãi suất niêm yết, lãi suất cơ bản của Cake ở mức 7,2%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng và lên tới 7,4%/năm cho kỳ hạn 10-24 tháng. Sau khi cộng ưu đãi, mức lãi suất khách hàng gửi lần đầu có thể nhận lên tới 9,2%/năm đối với kỳ hạn 6-9 tháng và 9,4%/năm đối với kỳ hạn 10-12 tháng.

Đối với khách hàng gửi từ lần thứ hai, mức lãi suất sau ưu đãi lên tới 9%/năm đối với kỳ hạn 6-9 tháng và 9,2%/năm đối với kỳ hạn 10-12 tháng.

Chương trình áp dụng với khách hàng mở tài khoản tiết kiệm trên ứng dụng Cake Bank, số tiền gửi tối thiểu từ 5 triệu đồng. Cơ chế cộng thêm lãi suất được áp dụng cho các phương thức nhận lãi đầu kỳ, cuối kỳ, hàng tháng và hàng quý.

Ở nhóm ngân hàng thương mại lớn, mặt bằng lãi suất huy động nhìn chung vẫn được duy trì tương đối ổn định.

Nhóm Big4 gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) cùng niêm yết lãi suất 4,75%/năm ở kỳ hạn 3 tháng; 6,6%/năm ở kỳ hạn 6 và 9 tháng; 6,8%/năm ở kỳ hạn 12 và 18 tháng.

Trong khi đó, tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, lãi suất các kỳ hạn phổ biến từ 6-18 tháng dao động quanh 6-7,8%/năm.

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) hiện thuộc nhóm có lãi suất niêm yết cao, với 7,6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 7,7%/năm cho kỳ hạn 9 tháng và 7,8%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Ngân hàng TMCP Lộc Phát (LPBank) duy trì mức 7%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 6,9%/năm cho 9 tháng, 7,2%/năm cho 12 tháng và 7,15%/năm cho 18 tháng.

Ở chiều ngược lại, không phải ngân hàng nào cũng đẩy lãi suất lên cao. Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) hiện niêm yết 4,45%/năm cho kỳ hạn 3 tháng, 4,65%/năm cho 6 tháng, 4,85%/năm cho 9 tháng, 5%/năm cho 12 tháng và 5,45%/năm cho 18 tháng.

Ở chiều cho vay, số liệu mới nhất các ngân hàng công bố cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay bình quân có xu hướng tăng tại nhiều ngân hàng, với mức chênh lệch đáng kể.

Ngân hàng TM TNHH MTV Kỷ Nguyên Thịnh Vượng (GPBank) ghi nhận mức lãi suất cho vay bình quân cao nhất trong nhóm được công bố, lên tới 11,34%/năm trong tháng 7. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và tiền gửi bình quân ở mức 2,93 điểm phần trăm.

Xếp sau là Ngân hàng số Vikki Bank với 10,82%/năm, Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) 10,72%/năm và Ngân hàng TMCP Bắc Á (Bac A Bank) 10,48%/năm.

Đáng chú ý, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 7 ở mức 10,62%/năm đối với khách hàng cá nhân và 9,64%/năm đối với khách hàng doanh nghiệp. So với tháng trước, lãi suất cho vay bình quân của Techcombank, Bac A Bank và BVBank đều có xu hướng tăng.

Ở nhóm có lãi suất cho vay bình quân dưới 10%/năm, LPBank ghi nhận 9,78%/năm, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (Saigonbank) 9,5%/năm, ACB 9,28%/năm, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) 9,05%/năm...

Trong nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tiếp tục ở mức thấp hơn nhiều ngân hàng thương mại cổ phần. Agribank công bố mức 8,53%/năm, với chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động là 2,4 điểm phần trăm. BIDV có mức thấp nhất trong nhóm được nêu, ở 7,35%/năm, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động là 2,75 điểm phần trăm.

Song lãi suất cho vay bình quân là mức bình quân của các khoản vay và không đồng nghĩa với mức lãi suất áp dụng cho mọi khách hàng. Lãi suất thực tế còn phụ thuộc vào loại khoản vay, thời hạn, tài sản bảo đảm, hồ sơ tín dụng và chính sách của từng ngân hàng.

Diễn biến trên cho thấy mặt bằng lãi suất ngân hàng đang vận động theo hướng ngày càng phân hóa, cả ở khả năng thu hút tiền gửi và chi phí vốn vay. Đây sẽ tiếp tục là yếu tố đáng chú ý đối với người gửi tiền, doanh nghiệp và người vay vốn trong những tháng cuối năm.

Lê Phương/Bnews/Vnanet.Vn


Tin cùng chuyên mục