Nhiều chính sách mới về đất đai chính thức có hiệu lực

10:06' - 05/01/2026
BNEWS Từ 1/1/2026, bảng giá đất mới được xây dựng đến từng thửa, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp tiếp tục áp dụng và người dân được giảm tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích.

Áp dụng bảng giá đất mới: Xóa bỏ cơ chế hai giá, "xây" bảng giá đất đến từng thửa 

Theo quy định của Luật Đất đai 2024, hệ thống bảng giá đất cũ theo Luật Đất đai 2013 sẽ chính thức hết hiệu lực vào ngày 31/12/2025.  Từ năm 2026, cơ chế định giá đất mới sẽ được vận hành với những thay đổi căn bản về phương thức xây dựng và cập nhật dữ liệu.

+ Bảng giá đất mới tiệm cận thị trường

Điểm quan trọng nhất là bảng giá đất sẽ được xây dựng và cập nhật hàng năm, thay vì định kỳ 5 năm như trước đây. 

Theo đó, giá đất sẽ được xác định chi tiết đến từng vị trí và từng thửa đất dựa trên nguyên tắc thị trường. Cách tiếp cận này nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch giữa giá Nhà nước và giá thực tế, đồng thời xóa bỏ cơ chế "hai giá" đã tồn tại nhiều năm.

+ "Xây" bảng giá đất đến từng thửa và thực hiện định kỳ hằng năm

Cụ thể, Theo khoản 3 Điều 159 Luật Đất đai 2024 và khoản 2 Điều 8 Nghị định 151/2025/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng quyết định bảng giá đất lần đầu để công bố và áp dụng từ ngày 01/01/2026. Cụ thể là:

- Hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất để công bố và áp dụng từ ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo.

- Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất trong năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định.

- Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất. 

Trong quá trình thực hiện, cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức tư vấn xác định giá đất để xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất.

- Theo đó, bảng giá đất được xây dựng theo khu vực, vị trí. Đối với khu vực có bản đồ địa chính số và cơ sở dữ liệu giá đất thì xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn.

 

Các trường hợp được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ 1/1/2026

Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 216/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về việc kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Theo Nghị định, các đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 28/2016/QH14 ngày 11/11/2016 của Quốc hội), cụ thể như sau:

1. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm theo quy định của pháp luật về đất đai; diện tích đất làm muối.

2. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ nghèo.

3. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho các đối tượng sau đây:

a) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp).

b) Hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh và hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận đất giao khoán ổn định của công ty nông, lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.

c) Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã.

4. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp.

Đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp thì thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai; trong thời gian Nhà nước chưa thu hồi đất thì phải nộp 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Quy định trên được thực hiện từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 31/12/2030.

Giảm tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở

Tại khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 254/2025/QH15, khi chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai 2024 thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định sau:

- Nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê dựa trên mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đất và tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của loại đất trước khi chuyển mục đích sử dụng đất cho thời gian sử dụng đất còn lại;

- Nộp tiền thuê đất hằng năm theo loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đất;

- Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng:

+ 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương;

+ 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương;

+ 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương.

Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất).

Người dân có thể được điều chỉnh lại tiền đã nộp

Một điểm đáng chú ý khác là quy định chuyển tiếp đối với các trường hợp đã được cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước khi chính sách mới có hiệu lực.

Theo nghị quyết của Quốc hội, nếu người dân đã được phép chuyển mục đích nhưng chưa nộp tiền sử dụng đất, cơ quan thuế sẽ xác định lại nghĩa vụ tài chính theo quy định mới. Trường hợp đã nộp tiền, cơ quan chức năng sẽ rà soát lại; nếu số tiền đã nộp cao hơn mức phải nộp, phần chênh lệch sẽ được bù trừ hoặc hoàn trả theo quy định.

Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời tạo sự thống nhất trong quá trình thực hiện chính sách.

Việc đồng loạt áp dụng các chính sách mới từ ngày 1/1/2026 được kỳ vọng sẽ giúp thị trường đất đai vận hành minh bạch hơn, hạn chế đầu cơ, giảm khiếu kiện và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, các địa phương cần sớm hoàn thiện bảng giá đất, công khai quy trình thực hiện và tăng cường hướng dẫn để người dân, doanh nghiệp nắm rõ và thực hiện đúng quy định.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục