BNEWS Bên cạnh mặt bằng lãi suất thông thường, một số ngân hàng đang triển khai các gói tiền gửi với lãi suất đặc biệt lên tới 7–9%/năm, song đi kèm điều kiện về số tiền gửi rất lớn.
Tuần qua, mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường tiếp tục có nhiều biến động khi một số ngân hàng điều chỉnh tăng ở nhiều kỳ hạn, đặc biệt là nhóm kỳ hạn trung và dài hạn. Đáng chú ý, Ngân hàng TMCP Quốc dân (NCB) là đơn vị vừa có đợt tăng lãi suất khá mạnh trên nhiều sản phẩm tiền gửi.
Theo biểu lãi suất mới công bố, NCB điều chỉnh tăng đáng kể lãi suất tiền gửi trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ. Cụ thể, kỳ hạn 1 tháng được nâng thêm 0,2 điểm phần trăm lên 4,7%/năm; các kỳ hạn 2–5 tháng cũng tăng lên 4,75%/năm, tương đương mức trần tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước đối với tiền gửi dưới 6 tháng.
Ở các kỳ hạn dài hơn, NCB đồng loạt nâng lãi suất từ 0,15–0,2 điểm phần trăm đối với kỳ hạn 6–11 tháng, lên 6,4%/năm. Kỳ hạn 12–13 tháng tăng 0,3 điểm phần trăm lên 6,6%/năm; kỳ hạn 15 tháng lên 6,7%/năm sau khi tăng 0,4 điểm phần trăm; trong khi kỳ hạn 18 tháng tăng mạnh 0,5 điểm phần trăm lên 6,8%/năm. Đối với các kỳ hạn dài 24–60 tháng, lãi suất hiện ở mức 6,9%/năm, trong đó kỳ hạn 24–36 tháng tăng 0,6 điểm phần trăm và kỳ hạn 60 tháng tăng tới 1,1 điểm phần trăm so với trước. Ngoài sản phẩm tiền gửi trực tuyến, nhiều sản phẩm tiết kiệm khác của NCB như tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm An Phát hay tiết kiệm gửi góp cũng được điều chỉnh tăng, với lãi suất đều vượt mốc 6%/năm. Đáng chú ý, lãi suất chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 24 tháng của ngân hàng này đã được nâng từ 7,1%/năm lên 7,4%/năm. Không riêng NCB, nhiều ngân hàng thương mại trước đó cũng đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động, gồm Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VietBank), Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB). *Mặt bằng lãi suất phân hóa mạnh Theo biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến cập nhật ngày 13/3, lãi suất kỳ hạn 1 tháng trên thị trường hiện dao động trong khoảng 3–4,75%/năm. Nhóm ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước chi phối như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) vẫn duy trì mức thấp, khoảng 3–3,2%/năm. Trong khi đó, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết quanh mức 4,5–4,75%/năm. Mức trần 4,75%/năm hiện được áp dụng tại khá nhiều ngân hàng như Ngân hàng TMCP Bảo Việt (BaoVietBank), Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank), Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank), VPBank hay NCB. Ở kỳ hạn 3 tháng, lãi suất phổ biến trong khoảng 4–4,75%/năm, sát mức trần 4,75%/năm áp dụng với tiền gửi dưới 6 tháng. Nhiều ngân hàng đã niêm yết mức trần này như BaoVietBank, BVBank, NCB, OCB, PGBank, Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank), TPBank, Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) và VPBank. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quy mô lớn vẫn duy trì mức thấp hơn, khoảng 3,4–3,7%/năm. Bước sang kỳ hạn 6 tháng, sự chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng bắt đầu rõ rệt hơn, dao động từ khoảng 4,5% đến trên 7%/năm. Một số ngân hàng niêm yết mức cao như PGBank với 7,1%/năm, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) khoảng 6,85%/năm, trong khi Ngân hàng TMCP Bắc Á (Bac A Bank) và Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LPBank) ở mức 6,8%/năm. Ngược lại, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì lãi suất thấp hơn, phổ biến từ 4,5–5,7%/năm. Mặt bằng lãi suất kỳ hạn 9 tháng phổ biến từ 5,3–6,8%/năm. Các ngân hàng như Bac A Bank, LPBank, PGBank hay NCB đang niêm yết quanh 6,4–6,8%/năm, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì thấp hơn đáng kể, khoảng 4,5–5,7%/năm.Với kỳ hạn 12 tháng, lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng đã tiến sát hoặc vượt ngưỡng 7%/năm. Dẫn đầu hiện nay là Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) và PGBank với khoảng 7,2%/năm; tiếp theo là LPBank với 7%/năm và Techcombank khoảng 6,95%/năm. Phần lớn các ngân hàng còn lại niêm yết trong khoảng 6–6,7%/năm, còn nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì khoảng 5,2–6%/năm.
Với kỳ hạn 18 tháng, mức lãi suất cao nhất trên thị trường hiện dao động từ khoảng 5,3% đến trên 7%/năm. LPBank đang niêm yết 7,1%/năm; BVBank ở mức 7%/năm; Bac A Bank khoảng 6,9%/năm. Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần khác áp dụng quanh 6–6,8%/năm, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn thấp hơn, khoảng 5,3–6%/năm. *Xuất hiện các gói lãi suất “đặc biệt” tới 9%/năm Bên cạnh mặt bằng lãi suất thông thường, một số ngân hàng đang triển khai các gói tiền gửi với lãi suất đặc biệt lên tới 7–9%/năm, song đi kèm điều kiện về số tiền gửi rất lớn. Cụ thể, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) áp dụng mức 9%/năm cho khách hàng mở mới sổ tiết kiệm kỳ hạn 12–13 tháng với số tiền gửi tối thiểu từ 500 tỷ đồng. Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) cũng đang niêm yết lãi suất 9%/năm cho kỳ hạn 12–13 tháng khi gửi tại quầy, với điều kiện duy trì số dư tối thiểu 2.000 tỷ đồng. Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank) áp dụng lãi suất 8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và 7,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng nếu số dư đạt tối thiểu 500 tỷ đồng. Ngân hàng số Vikki Bank đưa ra mức 8,4%/năm cho các khoản tiền gửi từ 13 tháng trở lên với số tiền tối thiểu 999 tỷ đồng. Ngoài ra, Ngân hàng số Cake by VPBank đang niêm yết lãi suất 7,1–7,3%/năm cho các kỳ hạn từ 6–24 tháng và có chính sách cộng thêm lãi suất tối đa 0,9 điểm phần trăm đối với tiền gửi từ 6 tháng trở lên, đưa mức lãi suất cao nhất vượt mốc 8%/năm. Cùng với đó, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) triển khai chương trình ưu đãi từ ngày 23/2 đến 8/4/2026, theo đó khách hàng gửi từ 50 triệu đồng với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên có thể nhận lãi suất tối đa 8,3%/năm. Bên cạnh các gói ưu đãi đặc biệt, nhiều ngân hàng hiện cũng niêm yết lãi suất trên 6,5%/năm cho các kỳ hạn dài mà không yêu cầu số tiền gửi tối thiểu. Chẳng hạn, Vikki Bank áp dụng 6,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 6,6–6,7%/năm cho các kỳ hạn 12–13 tháng. Cake by VPBank niêm yết 7,3%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và khoảng 7,1%/năm cho các kỳ hạn từ 7–36 tháng. Bac A Bank đang áp dụng mức 6,5%/năm cho các kỳ hạn 6–11 tháng, 6,55%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 6,7%/năm cho các kỳ hạn 18–36 tháng. VIB niêm yết 6,5%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, trong khi PVcomBank áp dụng 6,8%/năm cho các kỳ hạn từ 15–36 tháng. Một số ngân hàng khác cũng duy trì mức lãi suất khá cao như PGBank với 7,1%/năm cho kỳ hạn 6–9 tháng và 7,2%/năm cho kỳ hạn 12–13 tháng; MBV áp dụng 7,2%/năm cho kỳ hạn 12–36 tháng; BVBank niêm yết 7–7,1%/năm cho kỳ hạn 18–24 tháng. Diễn biến trên cho thấy mặt bằng lãi suất huy động đang có xu hướng nhích lên ở một số ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô vừa và nhỏ. Tuy vậy, nhóm ngân hàng lớn vẫn duy trì mức lãi suất thấp hơn, góp phần giữ ổn định mặt bằng lãi suất chung trên thị trường.Tin liên quan
Lãi suất tăng, người mua cân nhắc chọn lọc dự án
Trong bối cảnh giá nhà cao, sự gia tăng của lãi suất vay mua nhà càng khiến bài toán tài chính của người mua trở nên khó khăn.
Tin cùng chuyên mục
-
Tài chính & Ngân hàngĐa số các nghị sỹ EU ủng hộ kế hoạch ra mắt đồng euro kỹ thuật số
Nghị viện châu Âu (EP) đã ủng hộ việc khởi động các cuộc đàm phán về phiên bản kỹ thuật số của đồng euro.
-
Tài chính & Ngân hàngSHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA.
-
Tài chính & Ngân hàngLãi suất cao “bào mòn” động lực đầu tư của doanh nghiệp
Bên cạnh lãi suất cho vay, mặt bằng lãi suất huy động cũng được nhiều doanh nghiệp nhìn nhận là một rào cản đối với mục tiêu tăng trưởng.
-
Tài chính & Ngân hàngPBoC sẽ củng cố vị thế trung tâm tài chính của Hong Kong (Trung Quốc)
PBoC sẽ tăng tỷ lệ phân bổ tài sản dự trữ ngoại hối tại Hong Kong (Trung Quốc), đồng thời mở rộng chương trình Bond Connect như một phần của gói biện pháp lớn nhằm tăng cường vai trò của Hong Kong.
-
Tài chính & Ngân hàngLợi suất trái phiếu Nhật Bản tiếp tục tăng mạnh
Lợi suất trái phiếu, vốn ở mức dưới 1% vào đầu năm 2024, đã tăng đều đặn trong vài năm qua trong bối cảnh BoJ bình thường hóa chính sách tiền tệ và những lo ngại về tài chính.
-
Tài chính & Ngân hàngBoJ dự kiến nâng lãi suất vào tháng 10 tới
Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) dự kiến sẽ tăng lãi suất một lần nữa lên khoảng 1,25% vào tháng 10 tới và có thể nâng lên đến 2% vào cuối năm sau.
-
Tài chính & Ngân hàngNgân hàng, trung gian thanh toán phải chia sẻ dữ liệu tài khoản với cơ quan thuế
Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định rõ các đơn vị phải cung cấp thông tin tài khoản thanh toán của người nộp thuế cho cơ quan thuế theo phương thức điện tử và định dạng dữ liệu do cơ quan thuế quy định.
-
Tài chính & Ngân hàngBoK: Ứng dụng AI trong quản lý tài sản là yêu cầu chiến lược
Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BoK) đánh giá việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý tài sản công không còn là một lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu mang tính chiến lược.
-
Tài chính & Ngân hàngTiền mặt vẫn giữ chỗ đứng trong xu hướng thanh toán tại Australia
Mặc dù Australia là một trong những quốc gia đi đầu trong xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt, nhưng thực tế tiêu dùng cho thấy tiền mặt vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày.













