Quản trị rủi ro trong vận hành hồ chứa - Bài 1: Cùng một dòng lũ, hai câu chuyện khác nhau

  • Kha Phạm/vnanet.vn

BNEWS Nếu các mắt xích trong chuỗi quy trình đều khẳng định mình thực hiện đúng trách nhiệm, tại sao người dân ở vùng hạ du vẫn rơi vào tình thế bị động và không kịp trở tay khi dòng lũ đổ về ngập nhà cửa?

Hồ thủy điện Sông Tranh 2 vận hành xả lũ điều tiết hồ chứa. Ảnh Trần Tĩnh - TTXVN

Trước mùa mưa bão mới, việc rà soát đợt lũ lịch sử cuối năm 2025 phơi bày mâu thuẫn lớn. Ở thượng nguồn, các chủ hồ thủy điện khẳng định đã tuân thủ vận hành hoàn toàn đúng quy trình liên hồ chứa, thực hiện hiệu quả cắt giảm lũ và thông báo đầy đủ trước khi xả tràn. Ở hạ du, chính quyền cơ sở và người dân tiếp nhận thông tin cảnh báo quá gấp, dữ liệu rời rạc, chưa đủ để nhận biết khu vực nào sẽ bị ngập lụt cụ thể và người dân thực tế còn bao nhiêu thời gian để sơ tán an toàn. Câu chuyện thực ở những vùng dân cư bị thiệt hại do lũ thuộc lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng.

Bài 1: Cùng một dòng lũ, hai câu chuyện khác nhau

Trước mùa mưa lũ mới vẫn là một nỗi âu lo cũ. Nếu tất cả các mắt xích trong chuỗi quy trình đều khẳng định mình đã thực hiện đúng trách nhiệm, tại sao người dân ở vùng hạ du vẫn rơi vào tình thế bị động và không kịp trở tay khi dòng lũ đổ về ngập nhà cửa?

Từ phòng điều hành hồ chứa

Theo Báo cáo số 1147/BC-TĐAV của Công ty cổ phần Thủy điện A Vương (Đà Nẵng), trong sáu năm từ 2020 đến 2025, lưu vực xảy ra 36 đợt mưa lũ ảnh hưởng đến vận hành liên hồ. Riêng tại hồ A Vương xuất hiện 19 đợt lũ lớn và doanh nghiệp khẳng định hồ đã cắt, giảm lũ thành công trong cả 19 đợt này, bảo vệ an toàn công trình và giảm áp lực cho đồng bằng.

Một minh chứng tiêu biểu là đợt lũ lịch sử tháng 9/2020, khi đó, lưu lượng đỉnh lũ về hồ A Vương vượt 3.050 m3/giây. Nhờ theo dõi sát thời tiết và giữ mực nước hồ ở mức thấp trước lũ, hồ chứa đã giữ lại hoàn toàn khoảng 77,6 triệu m3 nước mà không phải xả tràn. Điều này giảm đáng kể lượng nước đổ xuống hạ du vào thời điểm căng thẳng nhất.

Doanh nghiệp cũng dẫn các đợt lũ lớn năm 2021 và 2022 với tổng lượng nước về hồ vượt ngưỡng 100 triệu m3. Trong các đợt thiên tai này, hồ chứa đã giữ lại phần lớn lượng nước lũ, thể hiện vai trò quan trọng trong việc cắt giảm đỉnh lũ.

Bên cạnh việc tích nước cắt lũ, các chủ hồ khẳng định luôn tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cảnh báo thiên tai. Ông Ngô Xuân Thế, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy điện A Vương cho biết, đơn vị luôn gửi thông báo trước khi xả tràn ít nhất là bốn giờ. Thông báo này được gửi qua thư điện tử và các nhóm trao đổi của cơ quan phòng thủ dân sự, cơ quan chuyên môn và chính quyền hạ du.

Đồng thời, để người dân nhận được thông tin, công ty duy trì hệ thống gồm 15 trạm loa cảnh báo dọc các khu dân cư ven sông Vu Gia. Khi chuẩn bị xả, hệ thống sẽ phát một hồi còi dài 30 giây để gây chú ý, sau đó bản tin về thời gian và lưu lượng xả sẽ được phát đi phát lại hai lần.

Tương tự, Công ty cổ phần Thủy điện Geruco Sông Côn khẳng định duy trì nghiêm túc chế độ trực vận hành 24/7 trong suốt mùa mưa lũ. Đơn vị trang bị hệ thống còi cảnh báo tại đập, nhà máy và 10 trạm loa dọc hạ du sông Côn. Trước khi xả lũ bốn giờ, công ty gửi thông báo qua thư điện tử, Zalo, điện thoại; trưởng ca trực tiếp gọi điện cho người có thẩm quyền địa phương để đảm bảo thông tin được tiếp nhận.

Như vậy, các chủ hồ đã hoàn thành đầy đủ trách nhiệm pháp lý và kỹ thuật: nước lũ được giữ lại, còi báo động đã kéo và thông báo đã gửi đúng giờ.

Xã thiếu thông tin, người dân đối mặt hiện thực khốc liệt

Thế nhưng, nhìn từ phía hạ du sông Vu Gia, câu chuyện lại mang màu sắc hoàn toàn khác biệt với những mất mát và lo âu của người dân. Sông Vu Gia qua xã Thượng Đức chịu tác động tổng hợp từ sông Côn và các công trình thủy điện thượng nguồn.

Ông Nguyễn Hữu Lân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thượng Đức, chia sẻ đợt mưa lũ tháng 10-11/2025 đã làm khoảng 5.000 hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp, 4.262 căn nhà bị ngập sâu từ 1m đến trên 3m. Trận lũ dữ đã cướp đi sinh mạng của 2 người và làm 39 người bị thương. Chính quyền xã phải sơ tán khẩn cấp 313 hộ với 1.021 nhân khẩu ra khỏi vùng nguy hiểm. Tổng thiệt hại kinh tế được thống kê trên địa bàn xã sau đợt lũ này lên tới hơn 148,5 tỷ đồng.

Không chỉ thiệt hại về người và tài sản, dòng lũ dữ còn gây sạt lở bờ sông nghiêm trọng tại Thượng Đức. Báo cáo thực địa cho biết hơn 1 km bờ sông Vu Gia qua thôn Hội Khách Đông và Hội Khách Tây bị sạt lở hoàn toàn. Tình trạng tương tự xảy ra dọc các thôn Hà Dục Đông, Hà Dục Tây và Tịnh Đông Tây với chiều dài sạt lở khoảng 2 km. Sức nước công phá mạnh khiến đất đai sản xuất của người dân bị cuốn trôi sâu vào đất liền từ 10 - 15m, có nơi trên 20m sau mỗi mùa lũ, đe dọa trực tiếp đến các ngôi nhà kiên cố dọc bờ sông.

Chính quyền xã Thượng Đức không phủ nhận tác dụng cắt giảm lũ của hồ chứa. Tuy nhiên, điều địa phương trăn trở là sự thiếu hụt nghiêm trọng về mặt thông tin tích hợp. Trong bão lũ, điện lưới có thể mất, đường giao thông bị chia cắt, cán bộ xã phải gồng mình chống lũ nhưng lại thiếu dữ liệu tổng thể.

Họ chỉ nhận thông tin riêng lẻ từ từng chủ hồ qua email hoặc điện thoại, không có công cụ tính toán tổng lượng xả của cả chuỗi hồ chứa phía trên. Một bản tin cảnh báo thông báo lưu lượng xả bao nhiêu mét khối trên giây hoàn toàn không tự trả lời cho người dân biết nhà họ có ngập hay không, nước bao giờ tràn vào cửa nhà và tuyến sơ tán nào còn đi được để di chuyển.

Khoảng trống thời gian giữa "đã phát tin" và "đã an toàn"

Mâu thuẫn lớn nhất nằm ở cách hiểu về "quỹ thời gian bốn giờ cảnh báo". Các chủ hồ khẳng định đã thông báo trước bốn giờ. Nhưng với người dân và chính quyền xã Thượng Đức, quỹ thời gian thực tế để hành động lại bắt đầu muộn hơn rất nhiều.

Khi thông báo phát đi từ phòng điều khiển, văn bản phải qua cơ quan đầu mối thành phố, sau đó mới chuyển về xã. Từ xã, thông tin chuyển về thôn; trưởng thôn nhận tin mới tập hợp lực lượng xung kích. Các lực lượng này dùng loa truyền thanh, loa cầm tay hoặc chạy xe máy đến từng nhà thông báo. Chỉ khi đó, người dân mới bắt đầu thu dọn tài sản, sơ tán người già, trẻ nhỏ ra khỏi vùng rủi ro.

Ủy ban nhân dân xã Sông Kôn phản ánh cơ chế phối hợp hiện tại chủ yếu là thông báo một chiều từ chủ hồ đến chính quyền hạ du. Cấp xã chưa có hệ thống trực tuyến để theo dõi liên tục mực nước hồ và lưu lượng xả thời gian thực trên điện thoại di động của cán bộ chỉ huy. Hơn nữa, bản đồ ngập lụt theo các kịch bản xả lũ vẫn chưa được số hóa chi tiết đến quy mô cấp xã, khiến địa phương khó xác định danh sách hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp.

Trong khi đó, ngân sách eo hẹp của cấp xã không thể tự đáp ứng việc đầu tư camera giám sát mực nước tự động, loa thông minh hay thiết bị truyền tin dự phòng khi mất sóng. Trách nhiệm đè nặng lên vai cấp xã khi họ là nơi phải biến các thông số kỹ thuật thành hành động thực tế như đóng đường giao thông nguy hiểm, di dời gia súc, sơ tán người dân và tổ chức cứu nạn cứu hộ.

Chính vì thế, khoảng cách quyết định sự an toàn không chỉ nằm giữa lúc thông báo và lúc mở cửa xả tràn. Đó là cả chuỗi hành trình phức tạp từ lúc "đã gửi" đến "đã nhận"; từ "đã nhận" đến "đã hiểu"; từ "đã hiểu" đến "ra quyết định sơ tán" và cho đến khi người dân "đã sơ tán an toàn".

Kha Phạm/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục