BNEWS Nhiều năm qua, Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) được nhìn nhận là một khu vực khủng hoảng, với chủ đề khả năng khối tiền tệ chung này tồn tại hay tan vỡ là trọng tâm của nhiều cuộc bàn luận.
Năm ngoái, việc cử tri Vương quốc Anh bỏ phiếu rời khỏi Liên minh châu Âu chủ yếu do họ cho rằng Eurozone là dự án có vấn đề về cơ chế hoạt động, và thậm chí khó có thể cứu vãn được nữa.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, Eurozone đã trở thành một đề tài “được ưa thích” của thị trường tài chính nhờ một số nguyên do tích cực.
Thực tế, Eurozone đã gượng dậy sau cuộc khủng hoảng 2011-2012 và phục hồi trong vài năm qua. Tính trên cơ sở thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng kinh tế khu vực hiện vượt nhịp độ tăng trưởng của Mỹ.
Tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực này cũng đang giảm dần tuy chậm hơn so với Mỹ, nhưng việc đó chủ yếu phản ánh sự khác biệt trong xu hướng các nhân công tham gia vào lực lượng lao động.
Trong lúc số người tham gia lực lượng lao động ở Mỹ lại suy giảm từ năm 2000 thì lực lượng lao động tại Eurozone đang gia tăng.
Trong 5 năm qua, 2.5 triệu người dân thuộc khu vực này gia nhập lực lượng lao động trên thực tế với 5 triệu việc làm được tạo ra, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống rõ rệt.
Hơn nữa, sự phục hồi của khu vực được duy trì ổn định ngoài mức trông đợi, ngay cả khi không có thêm các gói kích thích kinh tế mới.Mức thâm hụt ngân sách trung bình được điều chỉnh thường kỳ đã tương đối ổn định từ năm 2014, tương đương khoảng 1% GDP.
Tất nhiên, vẫn còn đó những khác biệt lớn về vị thế tài chính của từng quốc gia thành viên. Nhưng trong một liên minh tài chính đa dạng như Eurozone thì điều này đã được dự đoán. Có lẽ ta không nên đánh giá quá cao tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của Eurozone.
Trong khi tỷ lệ tăng trưởng bình quân có thể duy trì ở mức trên 2% trong vài năm tới, do tỷ lệ thất nghiệp hiện tại đang thu hẹp và xu hướng trong dài hạn người lao động lớn tuổi quay trở lại làm việc đang tiếp tục diễn ra.
Khi Eurozone đạt đến cái gọi là “điểm bước ngoặt Lewis” – thời điểm không còn lực lượng lao động dư thừa và mức lương bắt đầu tăng – mức tăng trưởng sẽ biểu hiện tốt hơn nguồn nhân khẩu và cơ cấu dân số.
Mặc dù vậy, kể cả sau thời điểm đó, tỷ lệ tăng trưởng tính theo đầu người của Eurozone có lẽ sẽ không thấp hơn nhiều so với Mỹ, do sự khác biệt tỷ lệ tăng trưởng năng suất của các nước này hiện đang thu hẹp.
Theo hướng này, trong tương lai, tăng trưởng của Eurozone có lẽ sẽ tương tự như Nhật Bản hiện tại (với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm ở mức hơn 1% một chút và lạm phát thấp được duy trì, đồng thời tăng trưởng thu nhập theo đầu người tương tự như ở Mỹ hoặc châu Âu).
Điều may mắn là Eurozone sẽ bước vào thời kỳ có tỷ lệ thất nghiệp thấp và tăng trưởng chậm nhưng trên cơ sở vững chắc và ổn định – phần nào nhờ vào những chính sách khắc khổ kể trên.
Ngược lại, cả Mỹ và Nhật Bản hiện đang phải đối mặt với việc “tỷ lệ thất nghiệp thấp” và mức thâm hụt ngân sách cao hơn 3% GDP (cao hơn khoảng 2-3 điểm phần trăm so với khu vực Eurozone).
Mỹ và Nhật Bản cũng đang phải gánh chịu các khoản nợ nặng hơn: tỷ lệ nợ trên GDP của Mỹ ở mức tương đương 107% GDP và cao trên 200% GDP ở Nhật Bản, so với 90% GDP tại khu vực Eurozone.
Kinh nghiệm của châu Âu cho thấy trong khi các chương trình kích thích kinh tế đồng bộ có thể tạo ra sự khác biệt trong các cuộc suy thoái trầm trọng, thì việc rút lại những chương trình đó khi không còn thực sự cần thiết nữa là phù hợp hơn việc duy trì một cách không xác định.
Với chính sách khắc khổ thì có thể sẽ phải cần nhiều thời gian hơn để sự phục hồi trở nên chắc chắn. Nhưng một khi điều này diễn ra, thành tựu kinh tế sẽ ổn định hơn do các lợi ích của chính phủ sẽ trong tình trạng ổn định và bền vững./.
Tin liên quan
Tín dụng doanh nghiệp tăng tại Eurozone
Theo Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB), tốc độ tăng trưởng tín dụng dành các doanh nghiệp phi tài chính đạt 2,4% trong tháng Tư, mức cao nhất kể từ tháng 6/2009.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Thế giớiTác động của việc eo biển Bab el-Mandeb bị phong tỏa với kinh tế Italy
Các chuyên gia ước tính sẽ có khoảng 10 tàu hàng cần đến sự bảo vệ tương tự trong vòng 30 ngày tới.
-
Kinh tế Thế giớiViệt Nam có thể đóng góp quan trọng vào một chủ nghĩa đa phương hiệu quả hơn
Câu chuyện phát triển của Việt Nam, từ những thay đổi trong nước đến quá trình mở cửa và hội nhập sâu rộng với thế giới, tự thân đã là một câu chuyện đầy ấn tượng.
-
Kinh tế Thế giớiSự kiện kinh tế thế giới nổi bật tuần qua
Kinh tế thế giới ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý khi chính sách tiền tệ tại Mỹ, Nhật Bản có những thay đổi, đồng NDT tiếp tục tăng giá và các chính sách thương mại của Mỹ có điều chỉnh.
-
Kinh tế Thế giớiNợ công Pháp dự báo cao kỷ lục, sức ép tài chính gia tăng
Nợ công của Pháp được dự báo tăng lên mức cao kỷ lục trong năm 2026, trong bối cảnh thâm hụt ngân sách tiếp tục ở mức cao, tăng trưởng kinh tế yếu và chi phí năng lượng gia tăng.
-
Kinh tế Thế giớiAI có thể đưa tăng trưởng kinh tế Mỹ lên 4% năm
Tỷ phú Elon Musk cho rằng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể giúp tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ tăng gần gấp đôi trong năm 2027.
-
Kinh tế Thế giớiWB duyệt kế hoạch hợp tác, hỗ trợ Thái Lan bứt phá kinh tế
Ban Giám đốc điều hành Ngân hàng Thế giới (WB) vừa thông qua Khung hợp tác quốc gia (CPF) mới dành cho Thái Lan trong giai đoạn tài khóa 2027-2032.
-
Kinh tế Thế giớiTrung Quốc cấp tín dụng 45 tỷ USD cho ngành nước
Thông tin trên được đưa ra sau khi Bộ Thủy lợi Trung Quốc ban hành thông báo phối hợp cùng ACB tăng cường các dịch vụ tài chính phục vụ sự phát triển chất lượng cao của ngành bảo tồn nước.
-
Kinh tế Thế giớiSản xuất chế tạo tại Mỹ bất ngờ giảm trong tháng 8
Sản lượng ngành chế tạo của Mỹ bất ngờ giảm trong tháng 8, chấm dứt chuỗi 7 tháng tăng liên tiếp, trong bối cảnh giá năng lượng và chi phí vốn gia tăng gây thêm sức ép lên hoạt động sản xuất.
-
Kinh tế Thế giớiFitch Ratings nâng triển vọng xếp hạng tín nhiệm của Thái Lan lên mức ổn định
Fitch nhận định, bất chấp chi phí năng lượng gia tăng và nhu cầu du lịch giảm nhẹ do căng thẳng tại Trung Đông, nền kinh tế Thái Lan vẫn duy trì đà phục hồi tốt.











