BNEWS Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 100/2025/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức.
Thông tư này hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức (bao gồm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ công chức, viên chức sau sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị); kinh phí thực hiện Chương trình/Đề án/Dự án về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp, các Chương trình/Đề án/Dự án có văn bản hướng dẫn riêng thì thực hiện theo quy định tại các văn bản hướng dẫn của Chương trình/Đề án/Dự án đó.
Thông tư này áp dụng đối với các đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng bao gồm: Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp xã; viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Tăng cường hình thức đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến; giảm hình thức đào tạo, bồi dưỡng trực tiếp
Thông tư nêu rõ, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên hàng năm và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ sau sắp xếp tổ chức bộ máy cho công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng được cấp có thẩm quyền phê duyệt (bao gồm đào tạo, bồi dưỡng trực tiếp tại cơ sở và cử đi đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở đào tạo khác; đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến và đào tạo, bồi dưỡng kết hợp trực tiếp và trực tuyến) các nội dung: Lý luận chính trị; kiến thức quốc phòng và an ninh; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước; kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm; kiến thức khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, công nghệ số.
Căn cứ đối tượng, điều kiện cử đi đào tạo sau đại học đối với viên chức theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và đối với công chức theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; căn cứ nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng được phân bổ và các nguồn kinh phí khác, các cơ quan, đơn vị quyết định việc hỗ trợ học phí, tiền mua giáo trình cho đối tượng được cấp có thẩm quyền có quyết định cử đi đào tạo.
Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng được sử dụng để chi các hoạt động trực tiếp phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ quan, đơn vị.
Trường hợp các cơ quan, đơn vị thực hiện đấu thầu, đặt hàng dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng sử dụng ngân sách nhà nước thì thực hiện theo quy định của Chính phủ về đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.
Tăng cường hình thức đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến, đào tạo, bồi dưỡng kết hợp trực tiếp và trực tuyến; giảm hình thức đào tạo, bồi dưỡng trực tiếp. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị được giao tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng quyết định hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tế, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm.
Mức chi đào tạo công chức trong nước
Về nội dung và mức chi đào tạo, bồi dưỡng, Bộ Tài chính nêu rõ nội dung và mức chi đào tạo công chức trong nước; nội dung và mức chi bồi dưỡng công chức trong nước; nội dung và mức chi đào tạo, bồi dưỡng công chức ở nước ngoài; nội dung và mức chi đào tạo, bồi dưỡng viên chức…
Trong đó, mức chi đào tạo công chức trong nước được nêu rõ như sau: Chi phí dịch vụ đào tạo và các khoản chi phí bắt buộc phải trả cho các cơ sở đào tạo: Theo hóa đơn của cơ sở đào tạo nơi công chức được cử đi đào tạo hoặc theo hợp đồng cụ thể do cấp có thẩm quyền ký kết.
Chi hỗ trợ kinh phí mua tài liệu học tập bắt buộc: Căn cứ khả năng ngân sách được giao, căn cứ vào chứng từ, hóa đơn hợp pháp thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định mức chi hỗ trợ kinh phí mua tài liệu học tập bắt buộc cho đối tượng được cử đi đào tạo cho phù hợp.
Chi hỗ trợ một phần tiền ăn trong thời gian đi học tập trung; chi hỗ trợ chi phí đi lại từ cơ quan đến nơi học tập (một lượt đi và về; nghỉ lễ; nghỉ tết); chi thanh toán tiền thuê chỗ nghỉ cho công chức trong những ngày đi tập trung học tại cơ sở đào tạo (trong trường hợp cơ sở đào tạo và đơn vị tổ chức đào tạo xác nhận không bố trí được chỗ nghỉ).
Căn cứ địa điểm tổ chức lớp học và khả năng ngân sách, các cơ quan, đơn vị quản lý công chức sử dụng từ nguồn kinh phí chi thường xuyên và nguồn kinh phí khác của mình để hỗ trợ cho công chức được cử đi đào tạo các khoản chi phí nêu trên đảm bảo nguyên tắc: Các khoản chi hỗ trợ này không vượt quá mức chi quy định tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị và Thông tư số 12/2025/TT-BTC ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị (Thông tư số 40/2017/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 12/2025/TT-BTC).
Chi hỗ trợ các công chức là nữ, ưu tiên nữ khi tham gia đào tạo mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi; công chức là người dân tộc thiểu số được cử tham gia đào tạo theo các chính sách, chế độ quy định của pháp luật về bình đẳng giới và công tác dân tộc. Kinh phí hỗ trợ bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan, đơn vị quản lý công chức.
Mức chi tiền công đối với giảng viên, báo cáo viên tối đa 4.000.000 đồng/người/buổi
Về mức chi bồi dưỡng công chức trong nước, theo Thông tư, các nội dung chi do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng hoặc các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ mở lớp bồi dưỡng công chức, giao nhiệm vụ biên soạn chương trình, tài liệu bồi dưỡng thực hiện.
Trong đó, về chi tiền công giảng viên, trợ giảng, báo cáo viên, Thông tư nêu rõ: Tùy theo đối tượng, trình độ học viên, căn cứ yêu cầu chất lượng khóa bồi dưỡng, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị được giao chủ trì tổ chức các khóa bồi dưỡng công chức quyết định mức chi tiền công cho giảng viên, trợ giảng (nếu có), báo cáo viên trong nước (bao gồm cả tiền công soạn giáo án bài giảng) trên cơ sở thỏa thuận theo hình thức hợp đồng công việc phù hợp với chất lượng, trình độ của giảng viên, trợ giảng, báo cáo viên trong phạm vi dự toán được giao: Mức chi tiền công đối với giảng viên, báo cáo viên tối đa 4.000.000 đồng/người/buổi; mức chi tiền công đối với trợ giảng tối đa 2.000.000 đồng/người/buổi (một buổi giảng được tính bằng 4 tiết học).
Đối với giảng viên nước ngoài: Tùy theo mức độ cần thiết, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng quyết định việc mời giảng viên nước ngoài. Mức tiền công đối với giảng viên nước ngoài do cơ sở đào tạo, bồi dưỡng quyết định trên cơ sở thỏa thuận tùy theo chất lượng, trình độ giảng viên và bảo đảm phù hợp với khả năng nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng của cơ quan, đơn vị.
Riêng đối với các giảng viên cơ hữu làm nhiệm vụ giảng dạy trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, thì số giờ giảng trong chương trình đào tạo vượt định mức được thanh toán theo quy định hiện hành về chế độ trả lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập theo quy định tại Thông tư số 21/2025/TT-BGDĐT ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chế độ trả tiền lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập. Trường hợp các giảng viên này được mời tham gia giảng dạy tại các lớp học do các cơ sở đào tạo khác tổ chức thì vẫn được hưởng theo chế độ tiền công theo quy định.
Tin liên quan
Việt Nam – Đài Loan (Trung Quốc) thúc đẩy hợp tác đào tạo nhân lực công nghiệp bán dẫn
Diễn đàn nhằm trao đổi và thảo luận về định hướng phát triển và đào tạo nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực bán dẫn giữa các chuyên gia, đại diện trường đại học hai bên.
Tin cùng chuyên mục
-
Truyền thông chính sáchCắt giảm tối đa thủ tục hành chính, tạo đột phá cho tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 258/NQ-CP ngày 31/8/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030.
-
Truyền thông chính sáchNhững chính sách mới nổi bật có hiệu lực từ tháng 9/2026
Từ tháng 9/2026, nhiều chính sách mới có hiệu lực, đáng chú ý là chi trả an sinh qua VNeID, cấp thẻ Căn cước cho trẻ dưới 6 tuổi và quy định mới về tiền bản quyền báo chí.
-
Truyền thông chính sáchChuẩn hóa việc sử dụng Quốc ca trong kỷ nguyên số
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng Nghị định 4 chương, 25 điều quy định bản Quốc ca chính thức, nghi thức sử dụng và cơ chế bảo vệ trên môi trường mạng.
-
Truyền thông chính sáchKhẩn trương gỡ vướng mặt bằng, vật liệu, vốn cho Dự án Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh
Phó Thủ tướng yêu cầu rà soát, cập nhật tiến độ toàn bộ Dự án Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh, tháo gỡ vướng mắc về mặt bằng, vật liệu và vốn.
-
Truyền thông chính sáchViệt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về trí tuệ nhân tạo vào năm 2045
Chiến lược quốc gia về AI đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu đưa AI thành động lực chiến lược, thúc đẩy năng suất, đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh quốc gia.
-
Truyền thông chính sáchNghị quyết số 26-NQ/TW: Phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới
Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
-
Truyền thông chính sáchGiấy chứng nhận an toàn thực phẩm phải là “giấy thông hành” bắt buộc để lưu thông hàng hóa trên thị trường
Các chuyên gia đề xuất chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời coi giấy chứng nhận an toàn thực phẩm là điều kiện bắt buộc để thực phẩm lưu hành trên thị trường.
-
Truyền thông chính sáchLoạt chính sách kinh tế mới nổi bật có hiệu lực từ tháng 9
Từ tháng 9/2026, nhiều chính sách mới nổi bật liên quan đến lĩnh vực kinh tế như tài sản mã hóa, ngoại thương, tiền lương, thuế, Sở giao dịch hàng hóa và quản lý cụm công nghiệp có hiệu lực.
-
Truyền thông chính sáchTăng cường chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ
Quyết định 1624/QĐ-TTg ngày 21/8/2026 sửa đổi Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030, bổ sung mục tiêu thí điểm định giá 100 quyền sở hữu trí tuệ.












