Doanh nghiệp ĐBSCL trước rào cản tiêu chuẩn mới của Trung Quốc

  • Thanh Liêm/vnanet.vn

BNEWS Dù Trung Quốc là thị trường có sức mua lớn, khoảng cách địa lý thuận lợi nhưng nhiều doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa thể khai thác.

Bà Nguyễn Thị Thương Linh, Phó Giám đốc VCCI Đồng bằng sông Cửu Long ,chia sẻ thông tin về thị trường Trung Quốc tại Hội thảo. Ảnh: Thanh Liêm - TTXVN

Theo ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc VCCI Đồng bằng sông Cửu Long, điểm nghẽn không chỉ nằm ở khả năng cung ứng mà còn ở năng lực cập nhật, tuân thủ quy định và kết nối giao thương; trong khi Trung Quốc đang chuyển nhanh từ một thị trường tương đối dễ tiếp cận sang thị trường yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.

Cuộc chơi bằng chất lượng

Phát biểu tại Hội thảo “Mở khoá thị trường tỷ dân: Bí quyết xuất khẩu thành công sang Trung Quốc” do VCCI Chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức ngày 27/8, ông Nguyễn Phương Lam cho biết, Việt Nam hiện có 17 hiệp định thương mại tự do, kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 475 tỷ USD; riêng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt hơn 70,4 tỷ USD, tăng từ 48 tỷ USD năm 2020 và chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Với nông sản, thủy sản và rau quả, Trung Quốc tiếp tục là thị trường quan trọng bậc nhất.

Riêng sầu riêng, giai đoạn 2021-2025, Việt Nam xuất khẩu hơn 3 triệu tấn tươi và gần 190.000 tấn đông lạnh, đưa kim ngạch từ 120 triệu USD năm 2020 lên 3,4 tỷ USD năm 2025, gấp 30 lần sau 5 năm. Những con số này cho thấy dư địa thị trường lớn, nhưng không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều dễ dàng tham gia.

“Trung Quốc dần không còn là thị trường dễ tính”, ông Lam nhấn mạnh. Thu nhập người tiêu dùng tăng kéo theo yêu cầu cao hơn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Đối với doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, hạn chế nổi bật là năng lực cung ứng chưa đồng đều, trong khi việc hiểu, cập nhật và tuân thủ kịp thời các quy định mới còn khó khăn.

Khảo sát của VCCI Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy phần lớn doanh nghiệp xuất khẩu trong vùng gặp vướng mắc với các chính sách của Tổng Cục Hải quan Trung Quốc (GACC) về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là đối với nông sản và thực phẩm, tiêu chuẩn kiểm dịch SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng; đồng thời khó tìm kiếm, thẩm định đối tác uy tín và cập nhật thay đổi của thị trường.

Ông Lam cho rằng đây vừa là thách thức vừa là động lực để doanh nghiệp chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị gia tăng. Hướng đi vào Trung Quốc không nên chỉ dừng ở sản phẩm tươi mà cần đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, hoàn thiện logistics và tăng cường truy xuất nguồn gốc.

Bà Nguyễn Thị Thương Linh, Phó Giám đốc VCCI Đồng bằng sông Cửu Long, phân tích Trung Quốc đang chuyển từ quản lý chủ yếu theo lô hàng sang quản lý sản phẩm, cơ sở sản xuất, chuỗi cung ứng và dữ liệu; kiểm soát được thực hiện trước, trong và sau nhập khẩu, trong đó lịch sử tuân thủ ngày càng quan trọng.

Các doanh nghiệp ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tìm hiểu thông tin về thị trường Trung Quốc tại Hội thảo. Ảnh: Thanh Liêm - TTXVN

Theo bà Linh, doanh nghiệp phải phân biệt rõ ba trạng thái: được phép tiếp cận thị trường, nhập khẩu được và bán được. Một sản phẩm có nhu cầu tại Trung Quốc chưa có nghĩa đã được phép nhập khẩu từ Việt Nam. Doanh nghiệp phải xác định sản phẩm có thuộc diện được nhập hay không, có Nghị định thư hoặc yêu cầu kiểm dịch riêng, vùng trồng/vùng nuôi và cơ sở đóng gói/chế biến có phải đăng ký hay không, lô hàng cần chứng thư nào và đáp ứng yêu cầu về SPS, an toàn thực phẩm, nhãn, bao bì, truy xuất ra sao.

Bà Linh dẫn thực tế, với dừa tươi Việt Nam, Trung Quốc cho phép nhập khẩu từ ngày 22/8/2024 nhưng vùng trồng và cơ sở đóng gói phải được kiểm tra, đăng ký và được GACC phê duyệt; sản phẩm còn phải đáp ứng yêu cầu về sinh vật gây hại, truy xuất, đóng gói, kiểm dịch và chứng thư thực vật.

Thực tế cạnh tranh cũng khắt khe hơn. Các sản phẩm chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long như sầu riêng, dừa, gạo, chuối, thủy sản và thực phẩm chế biến phải cạnh tranh với Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và Campuchia. Theo bà Linh, các yếu tố quyết định thị phần không chỉ là giá mà còn gồm chất lượng, nguồn cung ổn định, tuân thủ, logistics và kênh phân phối. Năm 2025, bán lẻ hàng hóa trực tuyến tại Trung Quốc đạt 13,09 nghìn tỷ NDT, chiếm 26,1% tổng mức bán lẻ hàng tiêu dùng; riêng thực phẩm bán trực tuyến tăng 14,5%. Do đó, doanh nghiệp phải xác định người mua, kênh bán và quy cách sản phẩm ngay từ khi phát triển hàng hóa.

Rào cản lớn nhất là năng lực tuân thủ

Theo chuyên gia thị trường Trung Quốc Hoàng Ngọc Oanh, doanh nghiệp muốn xuất khẩu chính ngạch phải đi qua nhiều lớp yêu cầu, từ xác định sản phẩm, vùng nguyên liệu/cơ sở sản xuất, đăng ký GACC, an toàn kỹ thuật, hồ sơ lô hàng đến kiểm tra nhập khẩu. Chỉ cần một khâu không đáp ứng, hàng có thể không được thông quan. Có khách hàng không đồng nghĩa có thể xuất hàng.

Một trong những điểm doanh nghiệp dễ nhầm là coi mã GACC như “giấy thông hành”. Bà Oanh lưu ý GACC chỉ xác nhận việc đăng ký cơ sở thuộc phạm vi quản lý; hàng hóa và từng lô hàng vẫn phải đáp ứng SPS/TBT, kiểm dịch, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, nhãn và chứng thư. Theo Lệnh 280 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, có hiệu lực từ ngày 1/6/2026 thay Lệnh 248, việc quản lý chuyển sang nguyên tắc phân loại theo rủi ro. Danh mục và phương thức đăng ký có thể thay đổi khi mức độ rủi ro thay đổi; doanh nghiệp phải duy trì điều kiện đăng ký, cập nhật thông tin và quản lý lịch sử tuân thủ.

Bà Oanh cho rằng rủi ro lớn không nằm ở việc thiếu một biểu mẫu, mà ở việc doanh nghiệp xác định sai yêu cầu, thông tin không thống nhất hoặc điều kiện thực tế của cơ sở không phù hợp hồ sơ.

Giám đốc VCCI Đồng bằng sông Cửu Long Nguyễn Phương Lam phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Thanh Liêm - TTXVN

Đáng chú ý, các yêu cầu kỹ thuật của Trung Quốc không tập trung trong một văn bản duy nhất. Doanh nghiệp phải tra từng lớp yêu cầu và ghép thành bộ tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm. Với thực phẩm, các chỉ tiêu có thể liên quan đến dư lượng thuốc thú y, kháng sinh, vi sinh, kim loại nặng, chất ô nhiễm, phụ gia, bao bì và nhãn. Tài liệu hướng dẫn nêu các tiêu chuẩn GB 31650-2019, GB 31650.1-2022 về dư lượng thuốc thú y; GB 29921-2021 về vi sinh; GB 2762-2025 về kim loại nặng và chất ô nhiễm; GB 2760-2024 về phụ gia. Doanh nghiệp không thể lấy kết quả kiểm nghiệm hoặc tiêu chuẩn của thị trường khác để mặc nhiên áp dụng cho Trung Quốc.

Tại phần hỏi - đáp, tài liệu của bà Oanh ghi nhận doanh nghiệp thủy sản cho biết dù đã biết đến mã cơ sở và GACC nhưng vẫn chưa chắc chắn về toàn bộ giấy tờ cần thiết phía Hải quan Trung Quốc; doanh nghiệp cũng gặp khó khi xác định kênh chính thống để tra yêu cầu về kháng sinh, vi sinh. Đây là biểu hiện rõ của khoảng trống năng lực tuân thủ và tiếp cận thông tin.

Giám đốc VCCI Đồng bằng sông Cửu Long Nguyễn Phương Lam cho rằng, nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp hiện nay là được cập nhật thông tin chính sách kịp thời, chính xác và kết nối trực tiếp với chuyên gia, cơ quan quản lý cùng mạng lưới đối tác để không bị động trước những thay đổi của thị trường. VCCI Đồng bằng sông Cửu Long đang phối hợp với các địa phương tổ chức tập huấn về quy định mới, trong đó có Lệnh 280; dự kiến tháng 11/2026 tổ chức đoàn khảo sát thị trường, kết nối B2B với thương nhân Trung Quốc, làm việc với các tổ chức xúc tiến thương mại và tham gia hội chợ Canton Fair.

Theo ông Lam, muốn mở khóa thị trường tỷ dân, doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long không thể chỉ dựa vào lợi thế sản phẩm và khoảng cách địa lý. Muốn đi đường dài, doanh nghiệp phải nâng năng lực cung ứng, chuẩn hóa vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, xây dựng hệ thống truy xuất, chủ động thông tin thị trường, chuyên nghiệp hóa giao thương và từng bước chuyển từ bán nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng.

Thanh Liêm/vnanet.vn

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục