BNEWS Việt Nam đã chính thức được Tổ chức Ca cao Quốc tế (ICCO) công nhận là quốc gia sản xuất “Ca cao hương vị hảo hạng” (Fine Flavor Cocoa – FFC), là quốc gia châu Á thứ hai đạt được danh hiệu này.
Như vậy, Việt Nam có lợi thế hiếm có vừa nằm trong nhóm “fine flavor”, vừa có điều kiện sinh thái đa dạng, vừa có thể tổ chức vùng trồng theo mô hình trồng xen nông lâm kết hợp phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp carbon thấp. Nói cách khác, Việt Nam không cạnh tranh bằng sản lượng mà có thể đi theo con đường giá trị cao, thương hiệu, bản sắc.
Cơ hội của ca cao Việt Nam Fine Flavor Cocoa (FFC) là thuật ngữ của Tổ chức Ca cao Quốc tế (ICCO) dùng để chỉ nhóm ca cao có hương vị đặc biệt, chất lượng cao, chiếm khoảng 10–15% sản lượng ca cao toàn cầu, chủ yếu phục vụ cho phân khúc chocolate cao cấp và chocolate thủ công. Nếu như trong nhiều năm, ca cao ở Việt Nam vẫn được nhìn nhận như một loại cây trồng ở quy mô nhỏ, ít được đưa vào các chiến lược ngành hàng lớn, thì trong bối cảnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với tăng trưởng xanh, giảm phát thải và hội nhập thị trường quốc tế, ca cao đang dần bước ra khỏi “vùng bóng râm”. Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), ca cao Việt Nam được đánh giá cao nhờ hương vị đậm, độ chua tự nhiên cân bằng và hương trái cây đặc trưng – những yếu tố rất phù hợp với phân khúc chocolate thủ công, chocolate nguyên chất và các sản phẩm cao cấp. “Fine flavor không phải là câu chuyện sản lượng, mà là câu chuyện chất lượng, truy xuất nguồn gốc và câu chuyện văn hóa của vùng trồng”, bà Mai nhận định. Trong bức tranh toàn cầu, thị trường ca cao và chocolate đang trải qua một giai đoạn chuyển dịch sâu sắc. Theo phân tích của Market Research Future (MRFR), quy mô thị trường hạt ca cao toàn cầu đạt khoảng 17,17 tỷ USD năm 2024 và dự kiến tăng lên hơn 37 tỷ USD vào năm 2035, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm khoảng 7,3%. Đáng chú ý, động lực tăng trưởng không còn đến từ phân khúc đại trà, mà đến từ các dòng sản phẩm cao cấp: chocolate đen, chocolate thủ công, ca cao hữu cơ, ca cao truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững. Giám đốc Công ty TNHH Cacao Land (Đắk Lắk), bà Đoàn Thị Kim Xuyến đánh giá: “Bắc Mỹ hiện vẫn là thị trường lớn nhất, nhưng khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang nổi lên như vùng tăng trưởng nhanh nhất, đặc biệt tại Nhật Bản, Hàn Quốc và các đô thị lớn của Trung Quốc. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến yếu tố đạo đức, môi trường và sức khỏe, thúc đẩy nhu cầu đối với ca cao có chứng nhận bền vững, sản xuất theo mô hình nông nghiệp tái sinh và kinh tế tuần hoàn”. Hạt nhân chiến lược của ngành ca cao Việt NamTây Nguyên là vùng trồng ca cao lớn nhất cả nước; trong đó Đắk Lắk đang chứng minh tiềm năng lớn nhất để xây dựng ngành hàng ca cao theo hướng bài bản. Không chỉ có diện tích ca cao lớn nhất, Đắk Lắk còn sở hữu những lợi thế đặc biệt: đất bazan màu mỡ, khí hậu cao nguyên ổn định, kinh nghiệm canh tác cây công nghiệp lâu năm và hệ sinh thái doanh nghiệp – hợp tác xã đang hình thành.
Quan trọng hơn, ca cao ở Đắk Lắk không phát triển theo hướng độc canh, mà chủ yếu trồng xen dưới tán cà phê, cây ăn trái và cây rừng đúng với logic của nông nghiệp tái sinh. Cây ca cao vừa giúp che phủ đất, cải tạo hữu cơ, hấp thụ carbon, vừa không cạnh tranh mạnh về dinh dưỡng, phù hợp với mô hình sản xuất bền vững trong dài hạn. Đắk Lắk có 7 hợp tác xã hoạt động đối với sản phẩm ca cao, tương đối hiệu quả khi liên kết với các doanh nghiệp như: Công ty TNHH Ca cao Nam Trường Sơn, Công ty TNHH Puratos Grand-Place Việt Nam; Công ty TNHH Sô cô la Marou; Công ty TNHH Bến Thành; Công ty Ecom... Trong thời gian qua, việc triển khai các chuỗi liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị nông sản trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả bước đầu. Nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nông dân đã tham gia liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ ca cao, góp phần ổn định đầu ra, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, so với tiềm năng, quy mô liên kết đối với sản phẩm ca cao vẫn còn hạn chế; liên kết chưa bền vững, chủ yếu vẫn dừng ở khâu sản xuất nguyên liệu, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, giá trị gia tăng chưa cao. Từ thực tế đó, ngành nông nghiệp Đắk Lắk đang xây dựng Đề án phát triển ngành hàng ca cao theo chuỗi giá trị, với định hướng không chỉ dừng ở sản xuất nguyên liệu, mà gắn chặt với chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường xuất khẩu. Bà Đoàn Thị Kim Xuyến nói: “Công ty TNHH Cacao Land, thành lập năm 2021 đã xác định sứ mệnh góp phần xây dựng ngành ca cao Việt Nam bền vững, nâng cao giá trị chuỗi sản phẩm từ hạt thô đến chế biến sâu, đồng thời bảo vệ môi trường và cải thiện sinh kế cho nông dân. Công ty sẽ đầu tư nhà máy với dây chuyền công nghệ hiện đại để đáp ứng nhu cầu chế biến bột ca cao và chocolate để hằng năm chế biến được khoảng 8.000 – 10.000 tấn hạt ca cao cho vùng Tây Nguyên”. Với tầm nhìn chung là biến Đắk Lắk thành trung tâm ca cao và “chocolate Việt Nam”, các doanh nghiệp trong ngành ca cao tại Đắk Lắk đang đồng hành cùng nông dân biến vùng đất đỏ bazan thành biểu tượng của nông nghiệp xanh, giá trị cao, hướng tới xuất khẩu toàn cầu. Từ thuận lợi có nhiều doanh nghiệp đồng hành, ngành nông nghiệp các địa phương vùng Tây Nguyên đã đề ra giải pháp phát triển chuỗi liên kết ca cao trong thời gian tới. Đó là tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp, củng cố và phát triển kinh tế hợp tác trong ngành hàng ca cao; khuyến khích hình thành, củng cố các hợp tác xã chuyên ngành ca cao; tổ chức lại sản xuất theo vùng nguyên liệu tập trung, gắn với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ… Giống như nhiều sản phẩm đặc trưng khác của vùng đất Tây Nguyên, giá trị lớn nhất của ca cao không nằm ở hạt thô, mà nằm ở khả năng chế biến sâu và kể câu chuyện về vùng đất và con người. “Một thanh chocolate mang lại giá trị cao gấp nhiều lần so với xuất khẩu hạt. Nhưng quan trọng hơn, nó giúp Việt Nam bước vào thị trường với tư cách là người tạo giá trị, chứ không phải người bán nguyên liệu”, bà Xuyến nhìn nhận.Tin liên quan
Nâng tầm giá trị ca cao Việt Nam – Bài 2: Hình thành chuỗi ngành hàng giá trị cao
Nếu chỉ nhìn vào bề nổi, ca cao vẫn là một cây trồng nhỏ trong bức tranh nông nghiệp Tây Nguyên: diện tích không lớn, sản lượng khiêm tốn, thị trường chưa ổn định.
Tin cùng chuyên mục
-
Kinh tế Việt NamCần hành trang pháp lý khi sáng tạo nội dung trên không gian số
Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, hoạt động sáng tạo nội dung đang mở ra cơ hội lớn cho KOC, KOL, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về hiểu biết và tuân thủ pháp luật.
-
Kinh tế Việt NamĐà Nẵng xây dựng năng lực xuất khẩu trực tuyến
Đà Nẵng xây dựng năng lực xuất khẩu trực tuyến
-
Kinh tế Việt NamCần Thơ khẩn cấp ứng phó sạt lở
Sạt lở bờ sông, kênh rạch và bờ biển diễn biến phức tạp, xuất hiện cả mùa mưa lẫn mùa khô, đe dọa trực tiếp tính mạng, tài sản, giao thông và các công trình thiết yếu.
-
Kinh tế Việt NamKết nối đa phương thức, tạo động lực mới cho hạ tầng giao thông Việt Nam
Khi hạ tầng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, những công trình được quyết định hôm nay sẽ định hình đất nước trong nhiều thập niên tới.
-
Kinh tế Việt NamKiểm soát chặt phát thải mê-tan ngay từ kho cảng nhập khẩu
Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) đang được xem là một trong những nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng trong lộ trình giảm phát thải khí nhà kính của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
-
Kinh tế Việt NamNghị quyết số 10-NQ/TW: Động lực 'hút' FDI vào kinh tế xanh
Cùng với thay đổi từ phía doanh nghiệp, mô hình các khu công nghiệp cũng đang dịch chuyển theo hướng sinh thái. Đây được xem là một yếu tố quan trọng để đáp ứng nhu cầu của thế hệ nhà đầu tư mới.
-
Kinh tế Việt NamCần Thơ báo động sạt lở, công bố tình huống khẩn cấp ở 4 xã, phường
UBND thành phố Cần Thơ vừa công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai, sự cố sạt lở nguy hiểm tại nhiều khu vực bờ sông, bờ kênh và bờ biển.
-
Kinh tế Việt NamTăng tốc thu hút khách quốc tế đến Việt Nam
Tăng trưởng du lịch trong giai đoạn mới không thể chỉ đo bằng số lượng khách mà cần quan tâm đến chất lượng dòng khách, thời gian lưu trú, mức chi tiêu, khả năng quay trở lại.
-
Kinh tế Việt NamHà Nội vận động hợp thửa, hợp khối để ngăn nhà “siêu mỏng, siêu méo”
Phương án hợp thửa, hợp khối là hướng xử lý cần ưu tiên đối với các phần đất nhỏ, hẹp, vừa bảo đảm quyền sử dụng đất của người dân, vừa hạn chế hình thành những công trình có hình dạng bất hợp lý.














