Nghị quyết 20-NQ/TW: Hạ tầng điện đồng hành cùng phát triển kinh tế biển

  • Văn Giáp/Bnews/vnanet.vn

BNEWS Phía sau mỗi đầm nuôi, nhà máy hay bến cảng là hạ tầng điện sẵn sàng làm lực đẩy cho kinh tế biển theo Nghị quyết 20-NQ/TW.

Từ những vùng nuôi trồng thủy sản, cơ sở chế biến đến các khu công nghiệp và bến cảng, phía sau mỗi hoạt động sản xuất gắn với phát triển kinh tế biển đều có một nhu cầu không thể thiếu, đó là hạ tầng điện. Khi các ngành kinh tế dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, chế biến, dịch vụ và logistics, yêu cầu về nguồn điện cũng thay đổi theo.  

Trong chuyến công tác cuối tháng 9, câu chuyện về hạ tầng điện ở những địa bàn các tỉnh phía Nam gắn với phát triển kinh tế biển hiện lên từ những nhu cầu rất cụ thể: Cấp điện cho sản xuất, vận hành hệ thống bơm, chế biến thủy sản, các khu công nghiệp và hoạt động cảng biển. Điều này đặt ra trọng trách lớn đối với hệ thống điện trong thời gian tới.

*Từ vùng nuôi trồng đến những nhà máy chế biến

Triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cho biết, khái niệm kinh tế biển không chỉ giới hạn ở hoạt động diễn ra ngoài khơi. Không gian này còn gắn với các ngành nuôi trồng thủy sản, khai thác và chế biến nguồn lợi từ biển, các cơ sở sản xuất phục vụ chuỗi kinh tế biển cũng như những hoạt động phát triển năng lượng trên biển.

Công nhân điện lực Phú Quốc (PC An Giang) kiểm tra hệ thống điện của khách hàng tại cơ sở xuất nước đá của Cty TNHH TK55. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Với đặc thù quản lý lưới điện khu vực phía Nam, EVNSPC tập trung cấp điện cho các khu vực có hoạt động nuôi trồng thủy sản, các nhà máy chế biến thủy sản và những cụm công nghiệp gắn với quá trình phát triển kinh tế tại các tỉnh như Cà Mau.

Ở những nơi này, điện không chỉ phục vụ sinh hoạt. Nguồn điện gắn trực tiếp với quá trình sản xuất, từ hệ thống bơm, cấp thoát nước tại các vùng nuôi trồng đến các thiết bị phục vụ bảo quản và chế biến thủy hải sản.

Khi sản phẩm thủy sản đi từ vùng nuôi đến nhà máy rồi ra thị trường, mỗi công đoạn đều có yêu cầu riêng về điện. Một hệ thống bơm cần vận hành theo thời gian nhất định; cơ sở chế biến cần nguồn điện cho máy móc vận hành; các thiết bị bảo quản cần duy trì hoạt động ổn định theo yêu cầu của sản phẩm, nhất là cho xuất khẩu. Việc duy trì nguồn điện ổn định, chất lượng đang gắn trực tiếp với hoạt động kinh tế của người dân và doanh nghiệp.

Phó Tổng giám đốc EVNSPC Bùi Quốc Hoan cho biết phát triển kinh tế biển cũng đặt ra yêu cầu phải nhìn hệ thống điện theo chuỗi, từ vùng sản xuất đến khu vực chế biến và các trung tâm dịch vụ. Khi một khâu phát triển, nhu cầu điện ở các khâu liên quan cũng có thể thay đổi theo. Đây là lý do việc theo dõi phụ tải tại từng khu vực có ý nghĩa trong quá trình chuẩn bị hạ tầng điện. Nhu cầu điện của một vùng nuôi trồng thủy sản không giống một nhà máy chế biến và cũng khác hoạt động của khu công nghiệp hoặc cảng biển.

Ca trực vận hành tại trung tâm Scada của Tổng Công ty Điện lực Miền Nam. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

“Mỗi phụ tải có thời gian sử dụng điện và đặc điểm vận hành riêng. Ngành điện nắm được những thay đổi đó để có cơ sở xây dựng hệ thống cấp điện phù hợp với hoạt động sản xuất của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế”, Phó Tổng giám đốc Bùi Quốc Hoan chia sẻ.

Tại khu vực Cần Giuộc, câu chuyện về kinh tế biển lại được nhìn từ một không gian khác: Nơi các hoạt động công nghiệp, dịch vụ và logistics đang phát triển gắn với vị trí quan trọng là kết nối Thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận.

Sản xuất phụ kiện tủ lạnh tại Cty TNHH MTV Sanwa Việt Nam (vốn đầu tư Nhật Bản) tại KCN Tân Kim (xã Cần Giuộc, Tây Ninh). Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Ông Nguyễn Ngọc Anh, Chủ tịch UBND xã Cần Giuộc cho biết, địa phương có vị trí giáp Thành phố Hồ Chí Minh, với nhiều khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất quy mô lớn. Cơ cấu kinh tế của địa phương đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp, thương mại, dịch vụ và đô thị.

Sự phát triển của các hoạt động này kéo theo nhu cầu sử dụng điện rất lớn. Tại đây hiện có 6 khu công nghiệp đang hoạt động. Theo ông Huỳnh Anh Dũng, Trưởng Điện lực Cần Giuộc, sản lượng điện phục vụ công nghiệp chiếm khoảng 52% tổng sản lượng điện của Công ty Điện lực Tây Ninh. Con số này phản ánh vai trò của điện đối với hoạt động sản xuất ở khu vực có tốc độ công nghiệp hóa cao. Để đáp ứng nhu cầu, Điện lực Cần Giuộc được EVNSPC/Công ty Điện lực Tây Ninh quan tâm đầu tư, nâng cấp hệ thống điện.

Cụ thể như Trạm biến áp 110 kV Cần Giuộc trước đây chỉ có một máy biến áp, sau đó được nâng lên hai máy. Hệ thống lưới điện trung, hạ thế cũng được tập trung đầu tư nhằm tăng khả năng dự phòng. Cùng với đầu tư, phương thức vận hành được điều chỉnh để các nguồn có thể hỗ trợ lẫn nhau.

Sản xuất các sản phẩm cơ khí chính xác tại Công ty Yumoto Việt Nam (vốn đầu tư Nhâtj Bản) tại KCN Tân Kim, xã Cần Giuộc, Tây Ninh. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

“Phương án vận hành hệ thống điện trên địa bàn được tổ chức theo hướng N-1, cho phép chuyển đổi giữa các nguồn 110 kV trong điều kiện cần thiết. Các tuyến đường dây 22 kV được bố trí để hỗ trợ cấp điện khi một đường dây gặp vấn đề”, lãnh đạo Điện lực Cần Giuộc cho biết.

*Điện theo cùng dòng chảy của hàng hóa

Theo Phó Tổng giám đốc Bùi Quốc Hoan, với khu vực phía Nam, việc bảo đảm điện cho các ngành kinh tế gắn với biển cần được đặt trong quá trình phát triển chung của từng địa phương. Khi cơ cấu kinh tế thay đổi, phụ tải điện cũng thay đổi theo. Đây cũng là lý do ngành điện cần phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp để nắm được kế hoạch phát triển sản xuất, từ đó có cơ sở chuẩn bị hệ thống điện trên địa bàn

Nếu vùng nuôi trồng và chế biến thủy sản cần điện để duy trì và ổn định sản xuất, xuất khẩu, thì cảng biển và logistics cần một hệ thống điện đủ khả năng phục vụ các hoạt động diễn ra liên tục, bất kể đêm hay ngày.

Tại Cần Giuộc, Cảng quốc tế Long An là một trong những điểm kết nối giữa sản xuất và hoạt động logistics. Theo thông tin từ ông

Nguyễn Tấn Hùng, Giám đốc Công ty Điện lực Tây Ninh, hệ thống điện phục vụ cảng hiện có khả năng đáp ứng khoảng gấp 4 lần mức tiêu thụ hiện tại, bởi sản lượng điện sử dụng mới ở mức khoảng 25% công suất khả dụng.

Điều này tạo ra một khoảng không dự phòng lớn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế chung của địa phương trong thời gian tới. Từ góc nhìn của ngành điện, việc chuẩn bị công suất dự phòng không chỉ căn cứ vào nhu cầu hiện tại của cảng, mà còn phải tính đến khả năng phát triển các hoạt động sản xuất, logistics và dịch vụ liên quan trong nhiều năm tới.

TBA 110kV Cần Giuộc (PC Long An). Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Khi hàng hóa từ các khu công nghiệp được đưa tới cảng, phía sau đó là cả một chuỗi hoạt động sử dụng điện như kho bãi, thiết bị phục vụ hàng hóa, chiếu sáng, hệ thống điều hành và các cơ sở dịch vụ. Nếu sản lượng hàng hóa tăng, nhu cầu của những khâu này cũng có thể thay đổi. Đây là lý do ngành điện địa phương phải theo sát sự phát triển của các khu công nghiệp và cảng biển trên địa bàn để có phương án chuẩn bị hạ tầng tương ứng.

Trưởng Điện lực Cần Giuộc Huỳnh Anh Dũng cho biết, trước nhu cầu phát triển kinh tế biển tại địa phương, đơn vị luôn theo dõi sát phụ tải, tổ chức bảo dưỡng theo tình trạng thiết bị và áp dụng điều khiển từ xa đối với một số thiết bị trên lưới. Khi cần chuyển nguồn, hệ thống có thể thực hiện theo phương án đã chuẩn bị.

Đặc biệt, trong điều kiện thời tiết diễn biến bất thường như hiện nay, công việc này càng đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng hơn. Theo đó, trước mùa mưa bão, Điện lực Cần Giuộc tập trung kiểm tra các vị trí xung yếu, phát quang hành lang, chuẩn bị nhân lực, vật tư và thiết bị, đồng thời phối hợp với các đơn vị lân cận để có thể huy động khi xảy ra sự cố. Như vậy, để dòng điện đến được các phụ tải, phía sau là cả quá trình theo dõi, kiểm tra, bảo dưỡng và chuẩn bị phương án vận hành chủ động và linh hoạt.

Ông Nguyễn Thành Nhân, phụ trách một đội vận hành lưu động của Điện lực Cần Đước cho biết, đội có 10 người, quản lý, vận hành và kiểm tra 5 trạm biến áp 110 kV gồm Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Tập, Long Hậu và Khu công nghiệp Phúc Lý. Ngoài việc phải theo dõi nhiều trạm biến áp 110 kV trên địa bàn, công nhân vận hành còn bám sát những tuyến đường dây dài khoảng 35 km tới Long Hậu. Do đó, việc ứng dụng điều khiển từ xa giúp giảm thời gian di chuyển của lực lượng vận hành khi cần theo dõi hoặc xử lý những thay đổi trên hệ thống. Bởi từ trung tâm điều khiển, nhân viên có thể theo dõi diễn biến phụ tải, tình trạng quá tải lưới điện, để từ đó linh hoạt điều chỉnh và chuyển tải theo phương án vận hành.

Công nhân Điện lực Cần Giuộc (PC Tây Ninh) kiểm tra hệ thống điện tại TBA 110 kV Cần Giuộc. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Từ thực tế công việc của những công nhân vận hành lưới điện cho thấy đảm bảo điện cho phát triển kinh tế biển không chỉ nằm ở những công trình, dự án lớn. Nó còn được hình thành từ hàng loạt hoạt động sản xuất, logistics và dịch vụ cần điện mỗi ngày.

Theo đó, ở vùng nuôi trồng thủy sản, điện phục vụ máy bơm và các thiết bị sản xuất. Ở nhà máy, điện vận hành dây chuyền chế biến. Tại khu công nghiệp, điện cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất, chế tạo. Ở cảng biển, điện hỗ trợ chuỗi logistics và dịch vụ. Những hoạt động ấy kết nối với nhau thành một chuỗi kinh tế rộng hơn.

Mỗi phụ tải đều là một mắt xích trong chuỗi kinh tế và phía sau mỗi mắt xích ấy chính là yêu cầu về một nguồn điện phù hợp, ổn định và có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của từng địa phương. Kinh tế biển vì thế không còn là câu chuyện về biển và những hoạt động ngoài khơi. Đó còn là câu chuyện của những vùng sản xuất phía sau, nơi sản phẩm hàng hóa được nuôi trồng, chế biến, tập kết và đưa ra thị trường.

Văn Giáp/Bnews/vnanet.vn


Tin cùng chuyên mục