Thị trường lúa gạo trầm lắng

16:30' - 04/01/2026
BNEWS Giá lúa gạo trong nước tuần qua không có nhiều biến động khi hoạt động giao dịch khá trầm lắng cộng thêm nhiều ngày nghỉ lễ. Giá gạo xuất khẩu vẫn đi ngang.

Xuất khẩu gạo được dự báo sẽ còn nhiều khó khăn khi các thị trường nhập khẩu lớn có các động thái thắt chặt.

 

Về xuất khẩu, giá gạo 5% tấm của Việt Nam không thay đổi so với tuần trước và được chào bán ở mức từ 360-365 USD/tấn. Một nhà giao dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết hoạt động giao dịch khá trầm lắng trong khi nhu cầu bên ngoài vẫn yếu.

Các thương nhân bày tỏ lo ngại xuất khẩu gạo trong năm 2026 sẽ đối mặt nhiều khó khăn hơn do Philippines có thể tái áp đặt hạn ngạch nhập khẩu, Indonesia không còn là khách hàng lớn trong khi nguồn cung từ Ấn Độ được dự báo sẽ rất mạnh.

Tại thị trường trong nước, theo Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, tại Cần Thơ, lúa Jasmine vẫn có giá là 8.400 đồng/kg, tương đương so với tuần trước; lúa IR 5451 là 6.200 đồng/kg; ST25 là 9.400 đồng/kg; OM 18 là 6.600 đồng/kg.

Tại Đồng Tháp, lúa IR 50404 có giá 6.800 đồng/kg; OM 18 là 7.000 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; Jasmine là 7000 đồng/kg. Tại Vĩnh Long, lúa OM 5451 có giá 6.500 đồng/kg và OM 4900 là 7.000 đồng/kg.

Tại An Giang, giá các loại lúa tươi hầu hết vẫn giữ vững so với tuần trước, OM 18 ở mức 6.500 – 6.700 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 6.500 – 6.700 đồng/kg; OM 5451 từ 5.800–6.000 đồng/kg; IR 50404 được thu mua 5.500–5.600 đồng/kg.

Tính đến ngày 29/12, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, vụ Đông Xuân 2025–2026, toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã xuống giống được 533.000 ha, tương đương 42% trong tổng kế hoạch 1,266 triệu ha.

Trên thị trường bán lẻ An Giang, giá gạo ổn định: gạo thường 11.500–12.000 đồng/kg; gạo thơm thái 20.000–22.000 đồng/kg; Jasmine 16.000–18.000 đồng/kg; gạo trắng 16.000 đồng/kg, Nàng Hoa 21.000 đồng/kg, Hương Lài 22.000 đồng/kg, thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg, Sóc thường 17.000 đồng/kg, Sóc Thái 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg.

Giá gạo nguyên liệu các  loại như: IR 50404 vẫn ở mức từ 7.600 – 7.700 đồng/kg; OM 380 từ 7.200 – 7.300 đồng/kg; OM 5451 ở mức 8.150 – 8.300 đồng/kg.

Với mặt hàng phụ phẩm, giá phụ phẩm các loại dao động trong khoảng từ  7.500 – 10.000 đồng/kg; giá cám khô ở mức 9.000 – 10.000 đồng/kg.

Trên thị trường gạo châu Á, giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ tiếp tục tăng lên mức cao nhất trong khoảng ba tháng do chi phí nội địa gia tăng. Giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ tuần qua đã tăng lên mức cao nhất kể từ ngày 2/10/2025, với loại gạo đồ 5% tấm được chào bán ở mức từ 355-360 USD/tấn, tăng so với mức từ 350-357 USD/tấn của tuần trước.

Theo các nhà giao dịch, nguyên nhân là do giá lúa trong nước tăng cao trong khi sức mua trên thị trường quốc tế vẫn còn yếu. Ông Umesh Jain, Giám đốc công ty xuất khẩu Sponge Enterprises, cho biết các khách hàng châu Phi hiện không tích cực mua vào và đang trì hoãn những đơn đặt hàng với hy vọng giá sẽ giảm.

Trong khi đó, các nhà giao dịch tại Thái Lan và Việt Nam lại lo ngại về tình hình nhu cầu toàn cầu tiếp tục ảm đạm. Theo đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan tuần này đi ngang ở mức 410 USD/tấn. Một nhà giao dịch tại Bangkok cho biết người mua đã ngừng các giao dịch mới kể từ tuần nghỉ lễ Giáng sinh. Nhà giao dịch này nhận xét rằng năm 2025 là một năm rất khó khăn cho cả nhà xuất khẩu lẫn thương nhân do giá cả liên tục sụt giảm.

Bangladesh đã lựa chọn nhà thầu cung cấp 50.000 tấn gạo với mức giá 359,77 USD/tấn là công ty thương mại Bagadiya Brothers của Ấn Độ. Giá gạo ở Bangladesh đã tăng 15-20% trong năm 2025 và hiện vẫn ở mức cao bất chấp việc nước này tăng cường nhập khẩu gạo và giảm thuế.

Thị trường ngũ cốc tại Mỹ tiếp tục đà giảm trong phiên giao dịch cuối tuần chủ yếu do áp lực từ thời tiết thuận lợi cho cây trồng tại Nam Mỹ.

Chốt phiên giao dịch ngày 2/1, giá đậu tương giảm 1,75 xu Mỹ xuống 10,4575 USD/bushel, chạm mức thấp nhất kể từ ngày 23/10/2025. Giá lúa mì giảm 0,5 xu Mỹ còn 5,065 USD/bushel, trong khi giá ngô giảm 2,75 xu Mỹ xuống 4,375 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

Áp lực chính lên thị trường đến từ triển vọng nguồn cung dồi dào ở Nam Mỹ, nơi thời tiết được dự báo tiếp tục thuận lợi cho các vụ ngô và đậu tương. Theo ông Jim McCormick, đồng sáng lập nền tảng tư vấn đầu tư AgMarket.net, đậu tương Brazil hiện có giá cạnh tranh hơn so với đậu tương Mỹ, khiến các khách hàng Trung Quốc chuyển hướng mua hàng từ quốc gia Nam Mỹ này.

Trong khi đó, gói cứu trợ nông nghiệp trị giá 12 tỷ USD của Chính phủ Mỹ được cho là không đủ để xoay chuyển nền kinh tế nông nghiệp đang gặp khó khăn và cung cấp ít sự hỗ trợ cho thị trường.

Dù vậy, mặt hàng ngô nhận được một số hỗ trợ từ tốc độ xuất khẩu nhanh của Mỹ. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho thấy doanh số bán ngô trong tuần kết thúc ngày 18/12 đạt 2,2 triệu tấn, vượt qua kỳ vọng của thị trường.

Thị trường cà phê thế giới cho thấy, kết thúc phiên giao dịch ngày 2/1, giá cà phê thế giới biến động trái chiều. Trên sàn London, giá cà phê Robusta quay đầu giảm do áp lực chốt lời. Cụ thể, giá cà phê Robusta giao tháng 1/2026 giảm 59 USD, xuống còn 4.050 USD/tấn.

Ngược lại, trên sàn New York, giá cà phê Arabica duy trì đà tăng nhẹ do lo ngại nguồn cung chưa cải thiện. Giá cà phê Arabica giao tháng 3/2026 tăng 1,0 xu, lên mức 349,45 xu/lb (1 lb=0,4535 kg).

Tại thị trường trong nước, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên ngày 3/1 tiếp tục nhích nhẹ, tăng từ 200-400 đồng/kg so với phiên trước. Hiện mặt bằng giá cà phê đang dao động trong khoảng 97.700 – 98.500 đồng/kg. Cụ thể, giá cà phê tại Đắk Lắk là 98.500 đồng/kg, giá cà phê tại Gia Lai là 98.400 đồng/kg và giá cà phê tại Lâm Đồng là 97.700 đồng/kg.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục